Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HSST

Ngày 17/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Văn.
  • Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên.
  • Bà Vũ Thị Minh Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Ngọc Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/TLST-HS ngày 29/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXX-TA ngày 03/5/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Kỳ D, sinh năm 1972; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; HKTT: Số B, ngõ D, đường K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/10; Bố đẻ: Nguyễn Kỳ T- (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị K- sinh năm 1944; A, chị, em ruột: có 07 anh, chị em, bị cáo là thứ 5; Vợ: Nguyễn Thị H – sinh năm 1973, có 02 con (lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2001); Tiền án, tiền sự: không. D1 chỉ bản số 1015 lập ngày 29/12/2023 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội.

* Nhân thân:

Ngày 01/02/2013, Công an quận T, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Vi phạm quy định điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền (2.300.000 đồng), nộp phạt ngày 22/02/2013.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/12/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; HKTT: thôn M, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Lê Thị Ú, sinh năm 1964; A, chị, em ruột: có 03 anh, chị em, bị cáo là thứ 3; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987; có 03 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: không. D1 chỉ bản số 1016 lập ngày 29/12/2023 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội.

* Nhân thân:

  • Ngày 02/5/2012, Công an phường Q, quận H, thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền (1.500.000 đồng), đã nộp phạt (đã xoá).
  • Bản án hình sự sơ thẩm số 233/2017/HSST ngày 13/12/2017, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ra trại ngày 03/4/2018 (đã xoá án tích).

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/12/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Kỳ D và Nguyễn Văn T1 là bạn bè quen biết xã hội, đều là đối tượng sử dụng chất ma túy. Sáng ngày 23/12/2023, D và T1 đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật, phường H, quận H, thành phố Hà Nội để uống thuốc Methadone. Uống thuốc xong, Nguyễn Văn T1 gọi cho Nguyễn Kỳ D (T1 sử dụng số điện thoại 0968.781.xxx, D sử dụng số điện thoại 0968.507.xxx) hỏi mua 500.000 đồng ma tuý loại Heroine của D, D đồng ý và bảo T1 đợi ở quán nước khu đất xây dự án xây dựng B, thuộc phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Sau khi đồng ý bán ma túy cho T1, D đi xe ôm của người không quen biết đến khu vực C, thuộc phường H, quận H, thành phố Hà Nội để mua ma tuý loại Heroine về bán lại cho T1 kiếm lời, còn T1 đi bộ đến điểm hẹn. Tại khu vực C1, D gặp và mua của một người nam giới không quen 02(hai) túi ni-lông bên trong chứa ma tuý loại Heroine hết số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, D tiếp tục đi xe ôm đi đến điểm hẹn bán ma tuý cho T1, đến nơi T1 gặp D ở vỉa hè trước khu đất xây dự án xây dựng B. Tại đây, T1 đưa cho Dân số tiền 500.000 đồng, D cầm tiền và đưa lại cho T1 02 túi ni-lông ma tuý Heroine đã mua lúc trước. Hồi 11 giờ 15 phút cùng ngày, tổ công tác Công an phường Đ, phối hợp với Công an phường H, quận H đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

  • Thu giữ của Nguyễn Văn T1, gồm: 02 (hai) túi ni-lông đều có kích thước (1,5x2)cm, bên trong chứa tinh bộ màu trắng, nghi là ma túy; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galay A32, màu đen, số IMEI 1: 355870664140362, số IMEI 2: 357848354140361, lắp sim số 0968781907, đã qua sử dụng.
  • Thu giữ của Nguyễn Kỳ D, gồm: số tiền 500.000 đồng, tiền Ngân hàng N đang lưu hành (trong đó 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng) tại túi áo khoác ngoài bên trái; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, số IMEI: 356772089363216, lắp sim số thuê bao: 0968507068, đã qua sử dụng;

Ngày 23/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định số 903, trưng cầu Phòng K1 - Công an thành phố H giám định 02 (hai) túi ni-lông vật chứng đã thu giữ nghi là ma tuý đã thu giữ trên. Tại Bản kết luận giám định số 8768/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 túi nilong đều là ma túy loại heroin, tổng khối lượng 0,534 gam.

Cáo trạng số 61/CT-VKS-HĐ ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Nguyễn Kỳ D, về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố Nguyễn Văn T1, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Kỳ D từ 24 đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

Các bị cáo không có thu nhập ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:

  • Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Nguyễn Kỳ D, Nguyễn Văn T1, cán bộ Công an phường Đ: Nguyễn Trần D2 và giám định viên Trần Ngọc C.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
    • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, số IMEI: 356772089363216, lắp sim số thuê bao: 0968507068, đã qua sử dụng; số tiền 500.000 đồng, tiền Ngân hàng N đang lưu hành thu giữ của Nguyễn Kỳ D;
    • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galãy A32, màu đen, số IMEI 1: 355870664140362, số IMEI 2: 357848354140361, lắp sim số 0968781907, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T1.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. [2] Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 23/12/2023, tại khu vực vỉa hè trước cửa khu đất dự án xây dựng B thuộc phường H, quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Kỳ D có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Văn T1 0,534 gam ma tuý loại Heroine lấy số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Văn T1 đang cầm ma túy trong lòng bàn tay thì bị tổ công tác Công an phường Đ phối hợp với Công an phường H, quận H đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

Hành vi của Nguyễn Kỳ D đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi của Nguyễn Văn T1 đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của nhà nước và còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an trên địa bàn quận H.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Kỳ D là đối tượng nghiện ma túy, thực hiện hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn T1 để kiếm lời, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn T1 cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Do vậy cũng cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và thực hiện biện pháp đấu tranh phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, hành vi phạm tội được phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên được áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.

  1. [3] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  2. [4] Về nguồn gốc ma tuý: D khai mua của một người nam giới, không quen biết tại khu vực C, thuộc phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành áp dụng các biện pháp điều tra, nhưng ngoài lời khai của D không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, đủ căn cứ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
  3. [5] Về vật chứng:
    • + 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Nguyễn Kỳ D, Nguyễn Văn T1, cán bộ Công an phường Đ: Nguyễn Trần D2 và giám định viên Trần Ngọc C là vật thuộc loại cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy;
    • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, số IMEI: 356772089363216, lắp sim số thuê bao: 0968507068, đã qua sử dụng và số tiền 500.000 đồng, tiền Ngân hàng N đang lưu hành thu giữ của Nguyễn Kỳ D; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galay A32, màu đen, số IMEI 1: 355870664140362, số IMEI 2: 357848354140361, lắp sim số 0968781907, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T1 là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  4. [6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kỳ D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Kỳ D 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.
  3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T1 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.
  4. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015:
    • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Nguyễn Kỳ D và Nguyễn Văn T1, cán bộ Công an phường Đ đồng chí Nguyễn Trần D2, Giám định viên Trần Ngọc C.
    • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
      • 01 (một)c điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, số IMEI: 356772089363216. Máy đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao: 0968507068.
      • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galãy A32, màu đen, số IMEI 1: 355870664140362, số IMEI 2: 357848354140361. Máy đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0968781907.
      • Số tiền 500.000 đồng, tiền Ngân hàng N đang lưu hành.

    (Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/4/2024 và Ủy nhiệm chi nộp tiền vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ngày 11/4/2024 tại Kho bạc nhà nước quận H)

  5. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THA quận Hà Đông;
  • - CA quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Đình Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 103/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kỳ D mua bán trái phép ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger