|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày 16-5-2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
Ông Lê Văn Đặng .
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST–HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn số 08/QĐ-HS ngày 03/5/2024 đối với bị cáo:
Chế Lý Công Đ, sinh năm 1977 tại tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ thường trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện tại: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD: [...]; con ông Chế Thái B (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957; có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1992; có vợ tên Trần Thị E, sinh năm 1980 và có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; ngày 10/9/2023, bị cáo đầu thú, bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến ngày 19/9/2023 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Ông Phạm Minh T, sinh năm 1982;
- Bà Đặng Kim C, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện tại: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Cùng có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị E, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; địa chỉ liên hệ: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chế Lý Công Đ và vợ là bà Trần Thị E cùng sinh sống tại nhà riêng thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng ông Phạm Minh T và bà Đặng Kim C là hàng xóm nhà bên cạnh nhà Chế Lý Công Định. Khoảng 13 giờ ngày 06/9/2023, Chế Lý Công Đ nhìn thấy vợ chồng ông T, bà C đi làm, không có ai ở nhà và cửa cổng khép, không khóa bằng ổ khóa thì Đ nảy sinh ý định đột nhập vào nhà ông T, bà C tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, Đ mở cổng đi lại phía bên trái cửa chính tắt cầu dao điện tổng của nhà ông T, bà C, rồi đi qua bên phải cửa chính dùng tay bẻ gãy camera hiệu Yoosee của nhà ông T, bà C, bỏ xuống chân bàn gần cửa chính. Đ mở cửa chính của nhà ông T, bà C (cửa không khóa) đi vào trong nhà lục tìm trong tủ đựng quần áo để trong phòng ngủ và lấy trộm được 01 (một) túi vải màu đỏ bên trong có nhiều trang sức bằng vàng gồm: 08 (tám) chiếc nhẫn, 02 (hai) sợi dây chuyền, 04 (bốn) đôi bông tai, 12 (mười hai) chiếc vòng tay với tổng khối lượng là 17,370 chỉ vàng loại 610, 04 chỉ vàng loại 980 và 9,471 chỉ vàng loại 18K. Đ cất giấu túi vải đựng vàng vào túi quần, để đồ đạc lại và đóng cửa lại giống như trước khi Đ vào, rồi lấy camera hiệu Y đem về nhà Đ.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe môtô đi đến Tiệm V, địa chỉ: Số D khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp chủ tiệm là bà Vương Thị Ngọc N1 bán số vàng lấy trộm được 81.602.000 đồng (tám mươi mốt triệu sáu trăm lẻ hai nghìn đồng). Số tiền có được, Đ mua lại 01 (một) nhẫn vàng 18K trị giá 6.497.000 đồng (sáu triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn đồng), sử dụng 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) để trả nợ, số tiền còn lại 57.105.000 đồng (năm mươi bảy triệu một trăm lẻ năm nghìn đồng) Đ cất giữ. Đối với camera lấy trộm, Đ vứt bỏ. Tiệm vàng sau khi thu mua vàng thì đem nấu chảy toàn bộ số vàng này.
Tối ngày 06/9/2023, vợ chồng ông T, bà C về nhà nhưng không phát hiện bị mất trộm tài sản. Đến 07 giờ ngày 09/9/2023, bà C lấy vàng để đeo để đi dự tiệc thì mới biết bị mất trộm vàng và camera phía trước nhà. Lúc này, con gái bà C là Phạm Minh T1 nhìn thấy bên nhà Đ có gắn camera hướng về phía nhà mình nên qua gặp bà Trần Thị E (vợ của Đ) xin cho xem camera thì thấy khoảng 14 giờ ngày 06/9/2023 Đ đứng trước sân nhà Đ, trên tay có cầm 01 (một) túi vải màu đỏ có đặc điểm giống với túi vải đựng vàng của nhà mình nên T1 về nói lại cho bà C biết. Tối ngày 09/9/2023, bà C đến Công an phường H trình báo. Sáng ngày 10/9/2023, Đ đến Công an phường H đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của ông T, bà C.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn có hình rồng của Chế Lý Công Đ.
Theo các Kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2023 và Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) B, kết luận: 17,370 chỉ vàng loại 610 trị giá 56.070.360 đồng (năm mươi sáu triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng); 04 chỉ vàng loại 980 trị giá 21.800.000 đồng (hai mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng); 9,471 chỉ vàng loại 18K giá trị 32.807.544 đồng (ba mươi hai triệu tám trăm lẻ bảy nghìn năm trăm bốn mươi bốn đồng); 01 (một) camera hiệu Yoosee trị giá 380.000 đồng (ba trăm tám mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản là 111.057.904 đồng (một trăm mười một triệu không trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm lẻ bốn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 13/9/2023, bà Trần Thị E là vợ của Chế Lý Công Đ thỏa thuận bồi thường số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) cho ông Phạm Minh T và bà Đặng Kim C đối với số vàng bị mất và camera bị hư. Ông T, bà C nhận đủ số tiền này, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ.
Về xử lý vật chứng: Ngày 18/3/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra C1 (nay là thành phố) Bến Cát xử lý giao trả 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn có hình rồng cho Chế Lý Công Đ.
Tại Bản Cáo trạng số 104/CT-VKSBC ngày 10/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Chế Lý Công Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 104/CT-VKSBC ngày 10/4/2024 đối với bị cáo Chế Lý Công Đ về tội: “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Chế Lý Công Đ: Xử phạt bị cáo Chế Lý Công Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, nội dung bản Cáo trạng số 104/CT-VKSBC ngày 10/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương và Kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2023 và Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) B.
Tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và phần luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Chế Lý Công Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ ngày 06/9/2023 tại nhà riêng của vợ chồng ông Phạm Minh T và bà Đặng Kim C thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Chế Lý Công Đ có hành vi lén lút đột nhập vào trộm cắp nhiều trang sức bằng vàng có khối lượng là 17,370 chỉ vàng loại 610; 04 chỉ vàng loại 980; 9,471 chỉ vàng loại 18K và 01 camera hiệu Yoosee của ông T, bà C, với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 111.057.904 đồng (một trăm mười một triệu không trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm lẻ bốn đồng)..
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác do bị cáo Chế Lý Công Đ thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bản Cáo trạng số 104/CT-VKSBC ngày 10/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân từ nguồn thu nhập hợp pháp nhưng vì tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng cho mục đích cá nhân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết định khung hình phạt: Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 111.057.904 đồng (một trăm mười một triệu không trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm lẻ bốn đồng) nên hành vi phạm tội của bị cáo bị xét xử ở khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị cáo đầu thú và bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Tại phiên tòa, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.
Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Chế Lý Công Đ, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.
[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Đối với số vàng bị cáo lấy của vợ chồng ông T và bà C và 01 (một) camera hiệu Yoosee bị cáo trộm của bị hại: Do số vàng này đã bị nấu chảy, không thu hồi được và camera bị hư, bị cáo đã vứt bỏ, không thể sửa được. Ngày 13/9/2023, bà Trần Thị E là vợ của bị cáo thỏa thuận bồi thường thiệt hại số tiền thiệt hại số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) cho vợ chồng Phạm Minh T và chị Đặng Kim C. Ông T và bà C đã nhận đủ số tiền bồi thường này và không có yêu cầu gì thêm, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ. Bà E xác định số tiền này là của chung vợ chồng, bị cáo và bà E cùng bồi thường cho bị hại và cũng không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bồi thường cho bị hại.
Đối với 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn có hình rồng thu của bị cáo: Ngày 18/3/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B xử lý giao trả chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn có hình rồng này cho Chế Lý Công Đ. Bị cáo đã nhận lại và không có ý kiến gì.
[5] Về án phí: Bị cáo Chế Lý Công Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chế Lý Công Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Chế Lý Công Đ 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 16/5/2024.
Giao bị cáo Chế Lý Công Đ cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 để giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Chế Lý Công Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày niêm yết Bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Chế Lý Công Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
