TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L TP Đ *** Bản án số:103/2024/HS-ST Ngày 29 tháng 6 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ******** |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L - TP. Đ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh N.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công C .
- Bà Nguyễn Thị Thanh B
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim T - Cán bộ Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đ tham gia phiên tòa : Ông Nguyễn Tiến B - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường Nhà họp cộng đồng, phường Hòa M – Địa chỉ : 133 Kinh Dương V, phường Hòa M, quận L, thành phố Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý 91/2023/TLST-HS ngày 05.6.2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXX-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
* Trần Ngọc L ( Tên gọi khác : Đ ) - Sinh ngày 25.4.1984 tại Đ – Nơi ĐKHKTT : Tổ 38, phường Hòa A, quận L, thành phố Đ - Hiện trú tại: Phòng 914, Nhà 2, Chung cư L, phường A, quận Cẩm L, thành phố Đ - Quốc tịch : Việt Nam – Dân tộc : Kinh – Tôn giáo : Không - Nghề nghiệp: Không.
Con ông: Trần Ngọc L (s) và bà Trần Thị M (s).
Tiền án: Ngày 11.7.2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt 02 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a, e khoản 2 điều 138 Bộ luật hỡnh sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại Bản án số 14/2018/HSST ngày 08.3.2018 của Tòa án nhân dân quận Cẩm L và Bản án số 115/2018/HS-PT ngày 11.7.2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đ. Chấp hành xong hình phạt tự ngày 19.7.2019. Chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dõn sự bồi thường cho người bị hại.
Nhân thân :
- Ngày 11.3.2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 57/2010/HSPT.
- Ngày 20.3.2024 bị Cụng an quận L xử phạt hành chính 1.500.000₫ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 128/QĐ-XPHC, Trần Ngọc L chưa nộp tiền phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20 tháng 2 năm 2024, hiện có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Ngô Văn S – Sinh năm 1989 – Nơi ĐKHKTT: Tổ 38, phường Hũa An, quận Cẩm L, thành phố Đ - Trỳ tại : Phòng 914, Nhà 2, Chung cư Phước L, phường A, quận Cẩm L, thành phố Đ, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1985 – Nơi ĐKHKTT : 7/304 Tăng Bạt Hổ, phường Thuận L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H - Hiện trỳ tại : 68 Mỹ A 23, phường Mỹ An, quận S, thành phố Đ, vắng mặt.
- Ông Ngô Văn T - Sinh năm 1972 – Trú tại : Tổ 51, phường An Hải B, quận S, thành phố Đ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu cú trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tũa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 20.2.2024, Trần Ngọc L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio Maximo, biển kiểm soỏt 43S5 – 7453 đến khu vực Bến xe Đức L, huyện Hòa V, thành phố Đà N tìm gặp một nam thanh niên tên “Phi” (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 02 gúi ma tỳy đá với giá 500.000đ, trong đó có 01 gói ma túy được cuốn băng keo màu đen ở bên ngoài. Sau đó, Luân cầm 02 gúi ma túy vào trong lũng bàn tay trỏi và điều khiển xe mô tô nói trên chạy về khu vực quận L, thành phố Đ tìm địa điểm để sử dụng. Đến lỳc 17h 40 phỳt cựng ngày, khi Luân đi đến trước kiệt 141/1 Nguyễn Như H, phường Hòa M, quận L, thành phố Đ thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lũng bàn tay trỏi của Luõn cú 02 gúi nilong chứa tinh thể màu trắng, trong đó có 01 gói ni long kích thước (2,7x04) cm và 01 gói ni long kích thước (1,5x03)cm được quấn băng keo đen bên ngoài, được niêm phong ký hiệu A và các tang vật liờn quan.
Tại bản kết luận giám định số 168/KL-KTHS ngày 28.2.2024 của Phòng kỹ thuật hỡnh sự Công an thành phố Đ kết luận : Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giỏm định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 1,336 gam.
Tiến hành kiểm tra điện thoại, không phát hiện nội dung nào liên quan đến việc mua bán ma túy.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của Trần Ngọc L tại địa chỉ Phòng 914, Nhà 2, Chung cư Phước L, phường A, quận L, thành phố Đ không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tang vật thu giữ của Trần Ngọc L gồm :
- Ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì thư ngày 21.2,2024, có đóng dấu giáp lai của Phòng KTHS Công an thành phố Đ;
- 01 điện thoại di động, hiệu Nokia màu đen, gắn thẻ sim 0833004442;
- Các vật chứng được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận L quản lý, bảo quản chờ xử lý trong giai đoạn xét xử.
- 01 xe mụ tụ nhón hiệu Yamaha Mio Maximo màu vàng, số mỏy 4P82004335, số khung RLCM4P8207Y004335 gắn biển kiểm soỏt 43S5 – 7453. Trần Ngọc Luân khai mượn chiếc xe này của Ngô Văn S (Sinh năm 1989 – Trú tại: Phòng 914, Nhà 2, Chung cư Phước L, phường A, quận C, thành phố Đ), là bạn của L để sử dụng đi lại. Ngô Văn S khai vào khoảng cuối năm 2022 có mua lại chiếc xe nói trên từ một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch với giá 1.500.000đ, thời điểm mua người bán xe nói xe đó bị mất giấy tờ và bỏn lại giỏ rẻ nờn Sỹ mua để sử dụng đi lại cá nhân, không rừ nguồn gốc cụ thể xe như thế nào. Trước thời điểm L bị Cơ quan công an bắt giữ khoảng 01 tháng, Sỹ có cho Luân mượn xe để L làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác định xe mô tô này do bà Nguyễn Thị T đứng tên chủ sở hữu. Bà T khai vào khoảng tháng 7 năm 2022, bà Tâm bị mất trộm chiếc xe này tại phòng trọ Khu vực A, không nhớ rừ địa chỉ cụ thể, thuộc phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S, thành phố Đ. Theo Bản kết luận giám định số 348/KL-KTHS ngày 07.5.2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Đ kết luận : Số máy 4P82004335, số khung RLCM4P8207Y004335 của xe mô tô nhón hiệu Yamaha MIO, màu vàng đen, mang biển số 4355 – 7453 cần giám định là nguyên thủy; biển số xe 43S5-7453 là biển số thật. Đối với biển số xe 43S5-7453, qua điều tra xác định biển số xe này của ông Ngô Văn T, năm 2006, ông T có mua và đứng tên chủ sở hữu xe mô tô Honda Stream màu đỏ có biển kiểm soát là 43S5-7453. Năm 2018, ông T bán lại chiếc xe này cho một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch thông qua mạng xã hội, khi bán không làm thủ tục sang tên đổi chủ.
Tại Bản cáo trạng số 89/CT-VKS -LC ngày 31.05.2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đ đã truy tố bị cáo Trần Ngọc L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Bị cảo Trần Ngọc L thừa nhận hành vi phạm tội của mỡnh như Bản cỏo trạng của Viện kiểm sỏt truy tố là đúng người, đúng tội, khụng oan.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L giữ quyền công tố tại phiên tũa vẫn giữ nguyờn quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị :
- Tuyờn bố bị cỏo Trần Ngọc Luõn phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm c, khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hỡnh sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cảo Trần Ngọc Luôn từ 02 (Hai) năm 06 ( Sỏu) thỏng đến 03 (Ba ) năm tự về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy ".
- Về xử lý vật chứng : Đề nghị HĐXX căn cứ điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS:
- - Tuyờn tịch thu tiờu hủy toàn bộ chất ma túy hoàn lại sau giám định đó được niêm phong.
- - Tuyờn quy trữ : 01 điện thoại di động, hiệu Nokia màu đen, gắn thẻ sim 0833004442 để đảm bảo thi hành án.
- - 01 xe mụ tụ nhón hiệu Yamaha Mio Maximo màu vàng, số mỏy 4P82004335, số khung RLCM4P8207Y004335 gắn biển kiểm soỏt 43S5 – 7453 là tang vật của vụ việc cú dấu hiệu tội Trộm cắp tài sản nờn ngày 17.6.2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đó cú Cụng văn số 503 về việc chuyển thông tin tội phạm và bàn giao tang vật theo Biên bản giao nhận ngày 25.6.2024 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn giải quyết theo thẩm quyền.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trờn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào cỏc tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được thẩm tra, xột hỏi, tranh luận tại phiờn tũa, HĐXX nhận thấy như sau :
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Cụng an quận Liờn Chiểu, Điều tra viờn, Viện kiểm sỏt nhõn dõn quận Liờn Chiểu, Kiểm sỏt viờn trong quỏ trỡnh điều tra, truy tố đó thực hiện đúng về thẩm quyền, trỡnh tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hỡnh sự. Quỏ trỡnh điều tra và tại phiờn tũa, bị cáo và người cú quyền lợi, nghĩa vụ liờn quan khụng cú ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp phỏp.
2. Về hành vi phạm tội của bị cỏo thỡ thấy : Bị cỏo Trần Ngọc Luôn đó thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mỡnh, cụ thể như sau :
Vào lúc 17h40 phút ngày 20.2.2024 tại kiệt 141/1 Nguyễn Như Hạnh, phường Hũa Minh, quận Liờn Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Trần Ngọc Luôn đó cú hành vi cất giấu trỏi phộp 1,336 gam ma tỳy loại Methemphetamine nhằm mục đích để sử dụng thỡ bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tỳy Cụng an quận Liờn Chiểu phỏt hiện, bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cỏo hoàn toàn phự hợp với cỏc tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đó thu thập cú trong hồ sơ vụ án cũng như quá trỡnh tranh luận tại phiờn tũa.
Do đó HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đó cấu thành tội “ Tàng trữ trỏi phộp chất ma tỳy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hỡnh sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
3. Xột tớnh chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cỏo Trần Ngọc Luôn thỡ thấy :
Ma tỳy là một trong những đại họa mà toàn nhõn loại phải đối mặt và là vấn đề vẫn đang cũn nhức nhối, ỏm ảnh xó hội Việt Nam núi riờng, thế giới núi chung. Chất ma tuý là cỏc chất gõy nghiện, chất hướng thần, cú nguồn gốc tự nhiờn hoặc tổng hợp, được quy định trong danh mục do Chớnh phủ ban hành, cỏc chất này khi xõm nhập vào cơ thể người sẽ làm thay đổi trạng thỏi ý thức và sinh lý, cú thể dẫn đến nghiện và từ đó gây tác hại về nhiều mặt đối với xó hội. Tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xó hội, gõy tỏc hại cho sức khoẻ, làm suy thoỏi nũi giống, phẩm giá con người, phỏ hoại hạnh phúc gia đỡnh, gõy ảnh hưởng nghiờm trọng đến trật tự, an toàn xó hội và an ninh quốc gia, làm gia tăng các tệ nạn xó hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm...và ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dõn tộc, làm giảm sỳt sức lao động sản xuất trong xó hội, tăng chi phí ngân sách xó hội cho cỏc hoạt động ngăn ngừa, khắc phục, giải quyết cỏc hậu quả do ma tuý đem lại, ảnh hưởng đến giống nũi, huỷ diệt giống nũi.
Với những tỏc hại nặng nề như vậy nờn trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đó cú nhiều chủ trương, biện phỏp nhằm tăng cường công tác đấu tranh phũng chống tệ nạn xó hội và tội phạm tuy nhiờn tỡnh hỡnh tội phạm và tệ nạn xó hội đặc biệt là tệ nạn ma tỳy vẫn diễn biến vụ cựng phức tạp, với tớnh chất ngày càng nghiờm trọng, gõy nhức nhối cho xó hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đỡnh. Chính vì vậy, công tác đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm về ma túy được xem là một trong những chiến lược lâu dài của các cơ quan tư pháp. Do đó, đối với hành vi tàng trữ trỏi phộp chất ma tỳy của bị cỏo Trần Ngọc Luôn, HĐXX thấy cần xử phạt một mức án tương xứng với tớnh chất và mức độ phạm tội của bị cỏo.
4. Xột tỡnh tiết tăng nặng, giảm nhẹ hỡnh phạt thì thấy:
Tàng trữ trỏi phộp chất ma tỳy là cất giữ, cất giấu bất hợp phỏp chất ma tỳy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người...) mà khụng nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trỏi phộp chất ma tỳy.
Đối với bị cáo Trần Ngọc Luôn là người có năng lực trỏch nhiệm hỡnh sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị, biết hành vi của mỡnh cú thể để lại hậu quả nghiờm trọng cho người khỏc và xó hội, xõm phạm đến cỏc mối quan hệ được phỏp luật bảo vệ nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi cất giấu bất hợp pháp 1,336 gam chất ma túy Methamphetamine ở trong tay của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Do đó HĐXX căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự để xét xử đối với bị cáo Trần Ngọc Luôn là đúng căn cứ pháp luật.
Bị cỏo cú 01 tiền ỏn về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a, e khoản 2 điều 138 Bộ luật hỡnh sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại Bản ỏn số 14/2018/HSST ngày 08.3.2018 của Tũa ỏn nhõn dõn quận Cẩm Lệ và Bản ỏn số 115/2018/HS-PT ngày 11.7.2018 của Tũa ỏn nhõn dõn thành phố Đà Nẵng. Chấp hành xong hỡnh phạt tự ngày 19.7.2019. Tuy nhiờn, bị cáo chưa tự nguyện thi hành toàn bộ nghĩa vụ dõn sự bồi thường cho người bị hại. Theo hướng dẫn tại công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03.4.2019 cụ thể : “ Điều 70 của Bộ luật dõn sự quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: người bị kết ỏn nếu từ khi chấp hành xong hỡnh phạt chớnh hoặc hết thời gian thử thỏch của án treo, người đó đó chấp hành xong hỡnh phạt bổ sung, cỏc quyết định khỏc của bản án. Như vậy, Bộ luật Hỡnh sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp xong hành hỡnh phạt bổ sung và cỏc quyết định khỏc của bản ỏn với bất kỳ lý do gỡ. Hơn nữa, phỏp luật thi hành ỏn dõn sự quy định nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành ỏn cú quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành ỏn hoặc nhờ thõn nhõn nộp thay.
Do vậy, trường hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hỡnh phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hỡnh sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hỡnh phạt bổ sung và cỏc quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hỡnh sự “.
Do đó lần phạm tội này bị cỏo Trần Ngọc Luôn vẫn chưa được xúa ỏn tớch mà vẫn tiếp tục phạm tội nờn thuộc trường hợp tỏi phạm. Ngoài ra, bị cỏo cú nhõn thõn xấu: Ngày 20.3.2024 bị Cụng an quận Liờn Chiểu xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi Sử dụng trỏi phộp chất ma tỳy theo Quyết định số 128/QĐ-XPHC, cho đến nay Trần Ngọc Luân chưa nộp tiền phạt và ngày 11.3.2010 bị Tũa ỏn nhõn dõn thành phố Đà Nẵng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “ Cố ý gõy thương tớch ” theo Bản ỏn hỡnh sự phỳc thẩm số 57/2010/HSPT. Do đó HĐXX căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hỡnh sự để xét xử đối với bị cáo Trần Ngọc Luôn là đúng căn cứ pháp luật.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Ngọc Luôn có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải. Vì vậy, HĐXX cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo khi lượng hình nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
5. Về xử lý vật chứng : Căn cứ điều 47 Bộ luật hỡnh sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hỡnh sự, HĐXX xử lý như sau :
- Đối với ma túy hoàn trả lại sau khi giám định, HĐXX xét thấy đây là vật cấm lưu hành, khụng cú giỏ trị sử dụng nên cần áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu huỷ.
- 01 điện thoại di động, hiệu Nokia màu đen, gắn thẻ sim 0833004442. Quỏ trỡnh điều tra, bị cáo Trần Ngọc Luôn khai nhận khụng sử dụng điện thoại này để liên lạc mua ma túy của đối tượng tên Phi. Xét thấy, đây là vật chứng bị cỏo sử dụng khụng liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cảo tuy nhiờn cần thiết quy trữ vật chứng trên để đảm bảo thi hành án là đúng quy định của pháp luật.
- Các tang vật này hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Liờn Chiểu đang tạm giữ tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 05.6.2024 và Quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ-VKS ngày 31.5.2024.
- Đối với 01 xe mô tô nhón hiệu Yamaha Mio Maximo màu vàng, số mỏy 4P82004335, số khung RLCM4P8207Y004335 gắn biển kiểm soỏt 43S5 – 7453. Tại phiờn tũa hụm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án thể hiện : Trần Ngọc Luân mượn chiếc xe này của Ngô Văn Sỹ trước thời điểm bị bắt 01 tháng, Ngô Văn Sỹ khai nhận vào khoảng cuối năm 2022 có mua lại chiếc xe này từ một người khác với giá 1.500.000đ đó mất giấy tờ khụng biết nguồn gốc xe. Quỏ trỡnh điều tra, xác định nguồn gốc xe mụ tụ này do bà Vừ Thị Tõm là chủ sở hữu, đứng tên đăng ký xe. Khoảng thỏng 7.2022, bà Tõm bị mất trộm xe tại khu vực An Thượng, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Cơ quan điều tra Công an quận Liên Chiểu đó tiến hành trưng cầu giám định, theo Bản kết luận giám định số 348/KL-KTHS ngày 07.5.2024 của Phũng kỹ thuật hỡnh sự, Cụng an thành phố Đà Nẵng kết luận : Số máy 4P82004335, số khung RLCM4P8207Y004335 của xe mô tô nhón hiệu Yamaha MIO, màu vàng đen, mang biển số 4355 – 7453 cần giám định là nguyên thủy; biển số xe 43S5-7453 là biển số thật. Đối với biển số xe 43S5-7453, qua điều tra xác định biển số xe này của ông Ngô Văn Thương, năm 2006, ông Thương có mua và đứng tên chủ sở hữu xe mô tô Honda Stream màu đỏ có biển kiểm soát là 43S5-7453. Năm 2018, ông Thương bán lại chiếc xe này cho người khác trên mạng xó hội, khi bỏn khụng làm thủ tục sang tờn đổi chủ. Do xe mô tô trên là tang vật của vụ việc có dấu hiệu tội Trộm cắp tài sản nên ngày 17.6.2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Cụng an quận Liờn Chiểu đó cú Cụng văn số 503 về việc chuyển thông tin tội phạm và bàn giao tang vật theo Biờn bản giao nhận ngày 25.6.2024 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn giải quyết theo thẩm quyền. Do đó HĐXX không đề cập xem xét trong vụ án này là có cơ sở.
Ngoài ra, Trần Ngọc Luõn cú hành vi sử trỏi phộp chất ma tỳy, Cụng an quận Liờn Chiểu đó ra quyết định xử phạt vi phạm hành chớnh là đúng quy định của pháp luật.
Trong vụ án có nam thanh niờn tờn Phi là người cú hành vi bỏn ma tỳy cho Trần Ngọc Luôn, hiện chưa xác định được lai lịch, họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Liờn Chiểu đang tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
Đối với Ngụ Văn Sỹ có hành vi cho Trần Ngọc Luân mượn xe mô tô để sử dụng nhưng không biết Luân sử dụng xe để đi mua ma túy nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu không đề cập xử lý là có cơ sở.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Trần Ngọc Luõn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Luõn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hỡnh sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cỏo Trần Ngọc Luõn 02 ( Hai ) năm 06 ( Sỏu ) thỏng tự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ 20.2.2024.
2. Căn cứ khoản 5 điều 249 Bộ luật hỡnh sự.
Tuyờn xử phạt bổ sung hỡnh phạt tiền đối với bị cáo Trần Ngọc Luôn số tiền 5.000.000₫ ( Năm triệu đồng).
3. Về xử lý tang vật : Căn cứ điều 47 Bộ luật hỡnh sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tuyờn tịch thu tiờu hủy toàn bộ chất ma túy hoàn trả lại sau giám định được niêm phong đựng mẫu hoàn trả của Phũng kỹ thuật hỡnh sự Cụng an thành phố Đà Nẵng.
- Tuyờn tịch thu quy trữ 01 điện thoại di động, hiệu Nokia màu đen, gắn thẻ sim 0833004442.
Các tang vật này hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Liờn Chiểu đang tạm giữ tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 05.6.2024 và Quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ-VKS ngày 31.5.2024.
4. Về án phí : Căn cứ khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ỏn phớ, lệ phớ Tũa ỏn.
Bị cảo Trần Ngọc Luôn phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghỡn đồng) ỏn phớ hỡnh sự sơ thẩm.
5. Bị cảo, người cú quyền lợi, nghĩa vụ liờn quan cú quyền làm đơn kháng cáo bản ỏn trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiờn tũa hoặc khụng cú mặt khi tuyờn ỏn mà cú lý do chớnh đáng thỡ thời hạn khỏng cỏo tớnh từ ngày nhận được bản ỏn hoặc tống đạt hợp lệ bản ỏn.
6. Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ánh Nguyệt |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 29/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L, THÀNH PHỐ Đ về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L, THÀNH PHỐ Đ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Luân
