Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-PT

Ngày: 12/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy.

Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu;

Ông Võ Trung Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 75/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Đức H, Trần Đăng K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Đức H (tên gọi khác: Huy K1), sinh ngày 16/8/2004, tại tỉnh Tiền Giang; đăng ký thường trú: ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Gang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973; anh chị em ruột có 01 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Đăng K, sinh ngày 17/8/2003, tại tỉnh Tiền Giang; đăng ký thường trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoài H2, sinh năm 1982 và bà Dương Thị Phương T, sinh năm 1983; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án có 02 bị cáo, 01 bị hại, 02 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; bản án bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 05/01/2023, Huỳnh Tấn M, sinh năm 2004, thường trú ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Long An cùng với nhóm bạn tổ chức uống bia tại nhà thuê ở ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Đến 21 giờ cùng ngày, còn lại anh M với Nguyễn Đức H, Trần Đăng K, Nguyễn Văn Khánh D, Nguyễn Phúc An B và Nguyễn Thị Minh T1 (bạn B), sinh ngày 13/02/2009, thường trú ấp H, xã H, huyện C, Nguyễn Thị Kiều T2 (bạn H), sinh năm 2006, thường trú ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang, Phạm Thị Tú A (bạn K), sinh ngày 22/5/2009, thường trú ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, lúc này anh M rủ thêm Phan Văn G (tên gọi khác M1), sinh năm 2002 và Lê Thành L (bạn G), sinh năm 1998, thường trú ấp M, xã H, huyện C vào nhậu chung. Khoảng 22 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô loại Vario (không rõ biển số) chở Kiều T2 đi mua thức ăn về, do không chú ý nên H đã để bánh xe trước cán lên đôi dép lào của L, H đưa thức ăn cho cả nhóm rồi vào phòng ngủ. Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi ra về L nhìn thấy đôi dép bị bánh xe của H đang cán lên nên chửi lớn tiếng, H nghe L chửi nên đi ra cự cãi với L rồi bỏ vào phòng ngủ ở phía sau nhà. B thấy H bị chửi liền cầm 02 vỏ chai bia trên 02 tay chạy ra phía sau nhà bếp, đập 02 vỏ chai bia vào nhau rồi cầm mảnh vỡ còn lại của 02 vỏ chai bia chạy ngược trở ra định đánh L và G nhưng không gặp do G và L đã bỏ đi bộ về nhà, H kêu B đóng cửa nhà lại rồi tiếp tục nhậu. Trên đường về, L rủ G về nhà lấy dao quay lại nhà M tìm H để đánh nhau thì G đồng ý.

Khoảng 23 giờ 10 ngày 05/01/2023, G và L quay trở lại nhà M, trên tay G cầm 01 con dao cán bằng nhựa màu đen, dài 33 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 21 cm, bảng dao rộng 04 cm, mục đích là để gây thương tích cho H nhưng cửa nhà đã đóng nên L dùng chân trái đạp vào cửa, nghe tiếng đạp cửa, B bước ra mở cửa thì gặp L, K bước ra nói chuyện và xảy ra xô xát với L, L vào bên trong nhà dùng hai tay cầm cây quạt máy đánh vào đầu H 01 cái nhưng không gây thương tích, G xông đến dùng tay trái đánh trúng vào vùng mặt bên trái của K 01 cái không gây thương tích, K dùng tay trái đánh trả lại trúng vào vùng mặt bên phải của G 01 cái và vật G nằm xuống nền gạch rồi ngồi đè lên người G làm con dao trên tay của G rơi xuống đất, mục đích là để cho nhóm của H gây thương tích cho G. Thấy vậy, B liền dùng chân phải đá con dao vào dưới gầm giường ngủ, ngay lập tức Dương cầm vỏ chai bia Sài Gòn bằng thủy tinh đập

liên tiếp vào đầu của G, mỗi lần D đập bằng 01 chai bia khác nhau (có chai đã sử dụng hết bia, có chai chưa sử dụng để trong kết bia) khoảng 05 đến 06 cái, B lấy vỏ chai bia trong kết, dùng tay phải đập vào đầu G nhưng không trúng, B tiếp tục cầm vỏ chai bia khác đập trúng vào vùng trán bên trái của G 01 cái gây thương tích, làm vỏ chai bia bị vỡ văng trúng chân của K bị xay xát, nên K buông G ra, G ngồi dậy thì bị D lấy vỏ chai bia trong kết bia đập trúng vào đầu G. H lấy cây kéo bằng kim loại để trên giường ngủ cầm trên tay trái đâm trúng vào vùng lưng bên phải của G, hậu quả G bị thương tích, Bình định xông vào phụ giúp H, lúc này T1 chứng kiến sự việc và can ngăn kéo B ra. Thấy G bị gây thương tích, L cầm cây quạt bị gãy định đánh H thì bị H cầm kéo đâm trúng vai bên trái của L 01 cái gây thương tích nhẹ. Sau đó, L điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở G đến Trạm y tế xã H cấp cứu, G được người nhà chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh T điều trị đến ngày 16/01/2023 thì xuất viện. Vụ việc sau đó bị Công an xã H phát hiện và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để tiếp nhận, thụ lý xác minh theo thẩm quyền.

Giấy chứng nhận thương tích số 20/BVĐKTG-GCN ngày 16/01/2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T xác định tình trạng thương tích khi nhập viện của Phan Văn G là: Vết thương kích thước 02 cm nằm cạnh phải cột sống khoảng L3 - L4, vết thương trán kích thước 03 cm, bầm hai mắt, sưng nề đỉnh chẩm trái kích thước 3 x 5 x 2 cm.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 129-2023/KLTTCT-TTPY ngày 08/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Phạm Văn G1 là 48%.

Kết luận khác:

- Xác định vật gây thương tích:

Sẹo vùng thắt lưng phải đoạn cột sống thắt lưng L3, L4; 02 sẹo dẫn lưu hố chậu phải, thương tích do vật sắc nhọn gây nên;

Sẹo vết thương trán trái do vật tầy có cạnh sắc gây nên;

Sẹo mổ đường trắng giữa trên dưới rốn, thương tích do phẩu thuật gây nên;

- Phân tích tỷ lệ phần trăm từng vết thương:

Sẹo vùng thắt lưng phải đoạn cột sống thắt lưng L3, L4, tỷ lệ 01%;

Sẹo vết thương trán trái, tỷ lệ 03%;

Sẹo mổ đường trắng giữa trên dưới rốn, tỷ lệ 03%;

02 sẹo dẫn lưu hố chậu phải, tỷ lệ mỗi vết 01%;

Đứt động tĩnh mạch thận phải, đã cắt bỏ thận phải, tỷ lệ 43%.

Ngoài ra, Nguyễn Đức H có hành vi dùng cây kéo bằng kim loại đâm trúng vai bên trái của Lê Thành L 01 cái gây thương tích nhẹ, ngày 31/01/2023, L có đơn từ chối giám định và không yêu cầu xử lý hình sự đối với H, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không ra quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của L.

Đối với Lê Thành L có hành vi cầm cây quạt máy đánh nhau với Nguyễn Đức H; Phan Văn Giàu c hành vi đánh nhau với Trần Đăng K bằng tay, nhưng không gây thương tích. Quá trình điều tra, H và K cũng từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình đối với L và G1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không đặt ra xem xét.

Đối với Huỳnh Tấn M, Nguyễn Hoàng Â, Nguyễn Thị Minh T1, Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Thị Tú A là những người có mặt tại thời điểm xảy ra vụ án, nhưng chỉ can ngăn, không có hành vi giúp sức cho các bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 mẫu vết màu nâu đỏ nghi là máu ký hiệu số 8 trên nền nhà trước; 01 mẫu dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu ký hiệu số 9 trên nền nhà trước; 01 mẫu dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu ký hiệu số 10 trên nền nhà trước; 01 mẫu dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu ký hiệu số 11 trên hành lang trước cửa nhà; 01 con dao cán bằng nhựa màu đen lưỡi kim loại chiều dài 33 cm, cán dài 12 cm, lưỡi dao dài 21 cm, bảng rộng 04 cm; 01 mảnh vỡ thủy tinh của chai bia; 01 áo sơ mi dài tay màu đen, có dính máu bên trong bên tay phải; 01 áo sơ mi dày tay màu trắng, có bông màu đen, có dính máu bên trong bên tay phải; 01 con dao dài khoảng 25 cm, cán nhựa màu đen; 01 con dao dài khoảng 40 cm, cán gỗ, lưỡi sắt; 01 con dao dài khoảng 25 cm, cán nhựa màu đen, phần lưỡi dao có ký tự “DUC”; 01 ống sắt dài khoảng 40 cm, đường kính khoảng 02 cm; 01 chân quạt màu đen, cao khoảng 40 cm, bị vỡ một phần.

Đối với cây kéo bằng kim loại Nguyễn Đức H khai sau khi thực hiện hành vi phạm tội, H để kéo trên nền gạch trước nhà M, nhưng sau đó H không rõ ai đã lấy quăng xuống sông gần nhà M. Ngày 08/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành truy tìm, nhưng không thu hồi được.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H, Trần Đăng K phạm tội “Cố ý gây thương tích".

- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 06 (S) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2023.

- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đăng K 05 (Năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo chấp hành án

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, về án phí, trách nhiệm dân sự và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  • * Ngày 05 tháng 3 năm 2024, bị cáo Trần Đăng K có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo
  • Ngày 17 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đức H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
  • * Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • * Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Về tố tụng, bị cáo có đơn kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về tội danh, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ pháp luật. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm, các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
  • * Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1]. Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức H, Trần Đăng K có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2]. Về nội dung kháng cáo:

    Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 05/01/2023, tại nhà của anh Huỳnh Tấn M ở ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Đức H, Nguyễn Văn Khánh D, Nguyễn Phúc An B và Trần Đăng K có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Phan Văn G với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 48%.

    Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Nguyên nhân xuất phát chỉ vì mâu thuẩn nhỏ mà các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện bản tính hung hăng, xem thường pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử nghiêm khắc mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe phòng ngừa loại tội phạm này.

  1. [2.1]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H:

    Tòa án cấp sơ thẩm xem xét tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có một phần lỗi của bị hại, bị hại có đơn xin bãi nại, có người thân là liệt sĩ, tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, và tuyên phạt bị cáo 06 năm.

    Bị cáo Đức H có vai trò chủ yếu trong việc gây thương tích cho bị hại vì sau khi bị cáo K đã buông bị hại G, bị cáo trực tiếp dùng kéo là hung khí nguy hiểm, có tính sát thương cao đâm từ phía sau trúng vào vùng lưng bên phải của G, hậu quả G bị đứt động tĩnh mạch thận phải, cắt bỏ thận phải gây tổn thương cơ thể của G với tỉ lệ là 45% nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo với mức án nêu trên là tương xứng tính chất, mức độ hành vi của bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt nào mới. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

  2. [2.2]. Xét kháng cáo của bị cáo Trần Đăng K:

    Sau khi xem xét tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có một phần lỗi của bị hạ, bị hại có đơn xin bãi nại theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 05 năm tù.

    Tuy không trực tiếp gây thương tích cho bị hại G nhưng bị cáo K cũng là người giúp sức tích cực, bị cáo quật ngã Giàu nằm xuống nền gạch rồi ngồi đè lên người Giàu để cho các bị cáo B, D dùng vỏ chai bia đập trúng đầu của G gây tổn thương cơ thể do thương tích 03%, đến khi mảnh vỡ của vỏ chai bia do B đập bể văng trúng vào chân thì bị cáo K buông G ra. Tuy nhiên, sau khi bị cáo K buông G ra, G đứng dậy thì bị bị cáo Đức H dùng dao tấn công từ phía sau gây tổn thương cơ thể do thương tích với tỉ lệ là 45% nên tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo K thấp hơn nhiều so với bị cáo Đức H. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo với mức án nêu trên là là nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới: có người thân có công cách mạng được Nhà nước tặng danh hiệu “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng”, tự nguyện bồi thường

thiệt hại cho bị hại G số tiền 10.000.000 đồng quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Trường hợp này không có lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

Về xin hưởng án treo, như đã phân tích, bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức tích cực, phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

  1. [3]. Các phần liên quan đến kháng cáo cần xem xét: không có.
  2. [4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có căn cứ như nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
  3. [5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. [6]. Bị cáo H kháng cáo về hình phạt không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo K kháng cáo về hình phạt được chấp nhận một phần và sửa bản án sơ thẩm nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Đăng K.

- Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang về hình phạt;

+ Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2023.

+ Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đăng K 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo chấp hành án.

- Về án phí: Căn cứ điểm b, d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Trần Đăng K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang;
  • - Trại tạm giam CATG;
  • - TAND huyện Cái Bè;
  • - VKSND huyện Cái Bè;
  • - Công an huyện Cái Bè;
  • - THADS huyện Cái Bè;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Lê Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-PT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 103/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 05/01/2023, tại nhà của anh Huỳnh Tấn M ở ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Đức H, Nguyễn Văn Khánh D, Nguyễn Phúc An B và Trần Đăng K có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Phan Văn G với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 48%
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger