|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 103/2024/DS-ST Ngày: 11-9-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Kim Thảo
- Bà Hồ Thị Minh Tâm
— Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
— Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2024/QĐXX-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 237/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng T3;
Địa chỉ: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Ngọc M – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Trung V – Phó Tổng giám đốc (Theo văn bản ủy quyền số 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023).
Ông Lê Trung V ủy quyền lại cho các ông:
- Ông Nguyễn Khoa H, sinh năm 1994
- Ông Danh T, sinh năm
- Ông Phạm Đông X, sinh năm 1994
- Ông Trần Thanh V1, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số B L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Số B L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang
Địa chỉ: Số B P, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
(Theo Quyết định ủy quyền số 510/QĐ-NHKL ngày 23/02/2024, ông Nguyễn Khoa H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn:
- 2.1 Ông Phạm T1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- 2.2 Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 24/5/2024 đại diện ngân hàng TMCP T3 ông Lê Trung V trình bày: Ngày 08/01/2021 ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O có ký kết hợp đồng tín dụng số 1502/20/HĐTD/1200-12064 để vay của ngân hàng TMCP T3 – Chi nhánh A số tiền 600.000.000 đồng, mục đích vay mua xe ô tô con, giải ngân ngày 08/01/2021, lãi suất thỏa thuận 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phạt chậm trả lãi 10%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng ông T2 bà O vi phạm hợp đồng, tính ngày 15/3/2024 ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O còn nợ ngân hàng TMCP T3 vốn gốc là 355.400.000 đồng và lãi là 29.067.181 đồng.
Ngân hàng TMCP T3 yêu cầu ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O có nghĩa vụ trả số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 15/3/2024 là 384.467.181 đồng, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận đến khi ông T1 và bà O thanh toán xong toàn bộ số nợ.
* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O nhưng ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Khoa H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O thanh toán cho ngân hàng TMCP T3 số tiền vốn gốc 355.400.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 11/9/2024 là 57.828.263 đồng, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận đến khi ông T1 và bà O thanh toán xong toàn bộ số nợ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng TMCP T3. Buộc bị đơn Phạm T1 và Nguyễn Thị Kiều O trả số tiền vốn gốc 355.400.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 11/9/2024 là 57.828.263 đồng, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận đến khi ông T1 và bà O thanh toán xong toàn bộ số nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa ngân hàng TMCP T3 và ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O thường trú tại khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Khoa H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ là bản sao hợp đồng tín dụng từng lần số 1502/20/HĐTD/1200-12064 ngày 08/01/2021, giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1502/KUNN ngày 08/01/2021 có chữ ký của ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O đã xác định được ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O có vay của ngân hàng TMCP T3 số tiền 600.000.000 đồng, mục đích vay mua ô tô, thời hạn vay 84 tháng, lãi suất thỏa thuận 12%/năm, cố định trong 03 tháng đầu, gốc lãi thanh toán định kỳ hàng tháng. Sự thỏa thuận giữa ngân hàng TMCP T3 và ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung thỏa thuận không trái đạo đức, pháp luật nên được xem là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O thanh toán được số tiền 244.600.000 đồng, còn nợ số tiền 355.400.000 đồng nên đã vi phạm thỏa thuận, ngân hàng TMCP T3 yêu cầu ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O phải trả số nợ gốc còn 355.400.000 đồng là phù hợp nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
Do đó, căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP T3, buộc ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O có nghĩa vụ trả cho ngân hàng TMCP T3 số tiền còn nợ là 355.400.000 đồng (ba trăm năm mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng).
2.2 Về nghĩa vụ trả lãi: Căn cứ bản sao hợp đồng tín dụng từng lần số 1502/20/HĐTD/1200-12064 ngày 08/01/2021, giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1502/KUNN ngày 08/01/2021 giữa ngân hàng TMCP T3 và ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O xác định lãi suất thỏa thuận là 12%/năm, cố định trong 03 tháng đầu sau ngày giải ngân, điều chỉnh từ tháng thứ 4. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O vi phạm thỏa thuận, nay ngân hàng TMCP T3 yêu cầu tính lãi theo thỏa thuận từ ngày ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O vi phạm hợp đồng đến ngày xét xử sơ thẩm 11/9/2024 với số tiền 57.828.263 đồng (năm mươi bảy triệu tám trăm hai mươi tám ngàn hai trăm sáu mươi ba đồng), đồng thời tiếp tục tính lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận từ ngày xét xử đến khi ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O thanh toán xong toàn bộ số nợ là phù hợp với quy định pháp luật nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- - Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- - Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP T3.
Buộc ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O có nghĩa vụ trả cho ngân hàng TMCP T3 số tiền vốn gốc là 355.400.000 đồng (ba trăm năm mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng) và tiền lãi là 57.828.263 đồng (năm mươi bảy triệu tám trăm hai mươi tám ngàn hai trăm sáu mươi ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần số 1502/20/HĐTD/1200-12064 ngày 08/01/2021.
2. Về án phí sơ thẩm:
- - Ngân hàng TMCP T3 được nhận lại số tiền 9.611.000 đồng (chín triệu sáu trăm mười một ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004764 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- - Ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu 20.529.000 đồng (hai mươi triệu năm trăm hai mươi chín ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP T3, ông Nguyễn Khoa H, ông Danh T, ông Phạm Đông X, ông Trần Thanh V1, ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Kiều O có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 103/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 103/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
