|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 103/2023/HS-ST Ngày: 11-8-2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Doãn Văn Sáng
Ông Đỗ Văn Mạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 91/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị V
sinh năm 1984 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đền, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông Nguyễn Văn Quảng và bà Nguyễn Thị Dánh (đã chết); Có chồng là Cao Văn Đông và có 07 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị cáo để tạm giam ngày 11/5/2023. Có mặt;
- Bị hại: Chị Ngô Thị D, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn Hầu, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/5/2022, chị Ngô Thị D, sinh năm 1975, trú tại thôn Hầu, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có đơn trình báo lên Công an huyện Thủy Nguyên về việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của gia đình chị do Nguyễn Thị V làm hộ có dấu hiệu giả mạo.
Quá trình điều tra đã xác định được: khoảng cuối năm 2019, do khó khăn về kinh tế, Vui nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị Dịu để có tiền trang trải cuộc sống. Do thường xuyên đi qua khu đất trống tiếp giáp nhà dân có diện tích khoảng 200m² ở cùng thôn Đền, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng (cách nhà Vui khoảng 500m) nên Vui nói với chị Dịu là mình đã nhận chuyển nhượng thửa đất này của anh Phạm Đình H, sinh năm 1969, trú tại thôn Đền, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng với giá 150.000.000 đồng và đề nghị chị Dịu góp số tiền 150.000.000 đồng để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và sẽ cho chị Dịu đứng tên chủ sử dụng, nếu sau này chuyển nhượng có lãi thì Vui và Dịu sẽ chia nhau tiền lãi. Để tạo thêm lòng tin, Vui đã dẫn chị Dịu đến vị trí thửa đất trên để trực tiếp xem. Sau khi xem đất, chị Dịu tin tưởng đồng ý và đã đưa cho Vui số tiền 110.000.000 đồng tại nhà của chị Dịu để làm GCNQSDĐ cho thửa đất trên. Thực tế Vui không nhận chuyển nhượng thửa đất trên, không biết chủ sử dụng thửa đất này là ai và không ký kết hồ sơ giấy tờ gì với chủ sử dụng đất hoặc với người môi giới nào khác. Số tiền 110.000.000 đồng nhận từ chị Dịu, Vui đã dùng để trang trải cuộc sống gia đình. Sau khi bị chị Dịu phát hiện và đòi lại tiền thì Vui đã hoàn trả toàn bộ số tiền trên cho chị Dịu.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã tiến hành kiểm tra, xác minh tại UBND xã Lâm Động về thửa đất trên và ghi lời khai của chủ sử dụng đất, xác định: thửa đất trên có diện tích 179,8m², số thửa 111B, tờ bản đồ số 02, thuộc thôn Đền, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005 vào mục đích đất ở. Đến năm 2018 thửa đất này được chia tách thành hai thửa đất số 111B1 (diện tích 98,7m² mang tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Thị Bé Ty, sinh năm 1986) và số 111B2 (diện tích 81,1m² mang tên chủ sử dụng là ông Đàm Văn Hồng, sinh năm 1978 và vợ là Đặng Thị Thu Hà, sinh năm 1983 đều thường trú tại xã Lâm Động). Các chủ sử dụng đất trên đều khẳng định mục đích sử dụng là để xây dựng nhà ở, hoàn toàn không có mục đích giao dịch và không đăng thông tin chuyển nhượng, không giao dịch chuyển nhượng cho ai là Phạm Đình H, Nguyễn Thị V như Vui đã khai báo.
Tại Cơ quan điều tra:
Nguyễn Thị V khai nhận: Khoảng năm 2018, Vui có quen biết anh Phạm Đình H. Vui biết Hồng có nhiều mối quan hệ xã hội và cũng có khả năng giúp người dân làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Vui có đặt vấn đề nhờ Hồng làm giúp GCNQSDĐ tại thửa đất là nơi ở của gia đình Vui có diện tích khoảng 200m² thuộc thôn Đền, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên là 30.000.000 đồng và GCNQSDĐ tại thửa đất nông nghiệp thuộc thôn Sú 1, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên diện tích khoảng 288m² do vợ chồng Vui mua lại của anh Nguyễn Xuân Lãm, sinh năm 1975, trú tại thôn 1, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên với chi phí làm giấy chứng nhận là 120.000.000 đồng. Toàn bộ chi phí làm 02 giấy chứng nhận trên, Vui đều đưa trực tiếp tiền mặt cho Hồng, không có ai biết và chứng kiến.
Đến khoảng đầu năm 2019 (không nhớ rõ cụ thể thời gian), chị Ngô Thị D nhờ Vui làm giúp GCNQSDĐ tại nơi ở của gia đình chị Dịu tại thôn Hầu, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, Vui đã nhận số tiền 316.000.000 đồng là chi phí làm giấy chứng nhận đối với thửa đất trên từ chị Dịu. Ngoài ra Vui còn nhận số tiền 180.000.000 đồng của chị Dịu để làm GCNQSDĐ cho thửa đất diện tích khoảng 200m² có nguồn gốc của mẹ đẻ chị Dịu thuộc thôn Sú 2, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên. Toàn bộ số tiền nhận từ chị Dịu, Vui đã đưa tiền mặt cho Hồng tại nhiều địa điểm mà không có ai biết, chứng kiến và không có tài liệu gì chứng minh. Vui hoàn toàn không biết 02 GCNQSDĐ đã làm được trước đó của Vui là giả, không biết GCNQSDĐ của chị Dịu cũng là giả. Khi chị Dịu thông báo về việc GCNQSDĐ do Vui làm hộ là giả và đòi lại số tiền đã đưa cho Vui thì Vui mới biết các giấy chứng nhận này là giả. Vui đã đòi lại toàn bộ số tiền trên từ Hồng để trả cho Dịu nhưng không có tài liệu gì chứng minh việc giao tiền giữa Vui và Hồng. Đối với 02 GCNQSDĐ mà Vui đã làm được trước đó, Vui khai nhận đã trả lại cho Phạm Đình H để kiểm tra, xác minh lại nhưng không có tài liệu gì chứng minh. Ngoài ra Vui khai nhận trong các lần nhận tiền từ Hồng để trả lại cho Dịu thì có một lần Hồng thực hiện chuyển khoản đến tài khoản của Vui số tiền khoảng 20.000.000 đồng đến 30.000.000 triệu đồng vào thời gian khoảng tháng 2/2021.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập tài liệu sao kê tài khoản của Vui mở tại hệ thống các Ngân hàng gồm số tài khoản 6601071984 của Ngân hàng TMCP Quân đội (MB bank); số tài khoản 19034582084011 tại Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam (Techcombank); số tài khoản 140161837 tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank); số tài khoản 0415917500001 tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostbank) đều không có giao dịch nào phát sinh có liên quan và phù hợp với lời khai của Vui.
Triệu tập Phạm Đình H lên làm việc, Hồng trình bày: khoảng cuối năm 2019, Nguyễn Thị V cùng bà Nhượng (chồng tên là Vũ) - cùng là hàng xóm đến nhà Hồng nhờ Hồng làm giúp GCNQSDĐ cho nhà Vui và nhà bà Nhượng (cùng ở thôn Đền, xã Lâm Động). Hồng đồng ý và hẹn đến xem nhà đất, khoảng một tuần sau Hồng liên hệ và đi cùng nhân viên đo đạc tên là Nam của Công ty CP khảo sát và đo đạc Hà Đông - Chi nhánh Hải Phòng đến nhà Vui với để đo đạc. Tại nhà Vui, Hồng chỉ đạo Nam thực hiện đo đạc, sau khi xong việc Hồng mang hồ sơ đến gặp Phạm Thế Bình - là công chức địa chính xã Lâm Động để Bình nghiên cứu hồ sơ và xác minh lại thực trạng thửa đất theo bản trích đo của nhân viên đo đạc Hà Đông. Một thời gian sau Bình cùng Hồng đến nhà Vui để kiểm tra lại thửa đất và đo đạc lại thì phát hiện một phần tường bao phía sau nhà Vui xây lấn sang đất hàng xóm khoảng 30cm nên Bình và Hồng đi về vì đất có chồng lấn. Hồng đã báo với Vui không làm được GCNQSDĐ với lý do nêu trên. Hồng không biết tại sao Vui làm được GCNQSDĐ, Hồng không biết và không tham gia làm GCNQSDĐ cho Vui. Ngoài ra Hồng không nhận làm GCNQSDĐ cho bất cứ thửa đất nào khác do Vui là chủ sử dụng, không mua bán chuyển nhượng, giới thiệu cho Vui thửa đất nào, không giao, nhận bất cứ khoản tiền nào từ Vui như Vui đã khai báo.
Tiến hành cho đối chất giữa Nguyễn Thị V và Phạm Đình H thì Vui thay đổi lời khai trước đó và khai nhận sự việc trên không liên quan đến Hồng. Thực tế Vui nhờ một người tên Ngọc (Vui không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) làm giúp 02 GCNQSDĐ tại thôn Đền và thôn Sú 1 thuộc xã Lâm Động của nhà Vui. Đến khoảng cuối năm 2019 Vui tiếp tục nhờ Ngọc làm giúp chị Dịu 02 GCNQSDĐ đối với mảnh đất của chị Dịu. Toàn bộ số tiền nhận của chị Dịu để làm GCNQSDĐ Vui đều đưa cho Ngọc. Sau khi Dịu đòi lại tiền do GCNQSDĐ là giả thì Vui đã đòi lại toàn bộ tiền trên từ Ngọc để trả cho Dịu. Lý do Vui khai anh Hồng là người làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đưa cho Vui là vì biết anh Hồng có uy tín và có khả năng làm được GCNQSDĐ.
Chị Ngô Thị D khai: Chị Dịu đã đưa cho Vui số tiền 496 triệu đồng để nhờ Vui làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 mảnh đất do gia đình chị Dịu đang sử dụng. Ngoài ra, Vui nói chuyện với chị Dịu về việc đã mua lại của Hồng một thửa đất nông nghiệp diện tích khoảng 200m² tại thôn Đền, xã Lâm Động. Vui đề nghị chị Dịu góp số tiền 150 triệu đồng để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sẽ để chị Dịu đứng tên chủ sử dụng đất. Vui đã dẫn chị Dịu đi xem thửa đất trên, tin lời Vui nên chị Dịu đã đưa cho Vui số tiền 110 triệu đồng là tiền tham gia đóng góp với Vui để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất này. Sau khi chị Dịu phát hiện 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vui làm hộ là giả, Vui đã trả lại cho chị toàn bộ số tiền 496 triệu đồng và 110 triệu đồng nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định số 75/KL-KTHS ngày 14/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất“số CQ582970, số vào sổ CH 03508 mang tên ông Nguyễn Quốc Thụy, năm sinh 1969, CMND số [...] và bà Ngô Thị D, năm sinh 1975, CMND số [...] cùng địa chỉ thường trú; xóm Hầu, xã Lâm Động, Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; ghi ngày cấp: 12/2/2020; nơi cấp UBND huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng” là giả và được làm giả bằng phương pháp in phun màu; Hình dấu tròn có nội dung “ỦY BAN N.D HUYỆN THỦY NGUYÊN TP. HẢI PHÒNG” trên tài liệu cần giám định là giả và được làm giả bằng phương pháp in phun màu; Chữ ký mang tên “Phó chủ tịch Bùi Doãn Nhân” trên tài liệu cần giám định là giả và được làm giả bằng phương pháp ký trực tiếp.
Về vật chứng: 02 tờ giấy viết tay nhận tiền; 02 đĩa CD sao lưu kết quả phục hồi dữ liệu điện tử và 01 CD ghi hình có âm thanh do Phòng Kỹ thuật hình sự cung cấp chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Về dân sự: người bị hại là chị Ngô Thị D đã nhận lại toàn bộ số tiền đã đưa cho Vui và không còn yêu cầu, đề nghị gì.
Bản Cáo trạng số: 100/CT-VKSTN ngày 21/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Thị V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Thị V khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại chị Ngô Thị D thừa nhận lời khai của Vui về hành vi lừa đảo số tiền trên nhưng bị cáo đã khắc phục hậu quả trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại, nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam ngày 11/5/2023. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vấn đề dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng cuối năm 2019, Nguyễn Thị V bằng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin không đúng sự thật về thửa đất có diện tích khoảng 200m2 tại thôn Đền, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, đã khiến cho chị Ngô Thị D tin tưởng thửa đất trên là của Vui nên đã góp tiền làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên, qua đó chiếm đoạt của chị Dịu số tiền 110.000.000 đồng. Với hành vi nêu trên, bị cáo Nguyễn Thị V đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị V là có căn cứ.
-
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân và gây mất trị an, an toàn xã hội. Bởi vậy cần xử lý nghiêm.
-
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, số tiền bị cáo chiếm đoạt đã tự nguyện trả lại cho bị hại, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại tương đối lớn nên cần thiết phải buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
-
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
-
[7] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong tại giai đoạn điều tra; bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
[8]. Quá trình điều tra vụ án Làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức, tài liệu chứng cứ thu thập chưa xác định được bị can nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra xử lý sau.
-
[9]. Đối với hành vi của Nguyễn Thị V nhận số tiền 496.000.000 đồng của chị Ngô Thị D với mục đích làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Dịu, chưa có căn cứ chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã tách hành vi để tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.
-
[10]. Đối với việc Vui khai nhờ Phạm Đình H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng sau đó Vui thay đổi lời khai là nhờ đối tượng tên Ngọc làm giấy chứng nhận, quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi địa chỉ, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý.
Cần kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Thuỷ Nguyên tiếp tục điều tra, xử lý đối với Nguyễn Thị V về hành vi Làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự; Tiếp tục điều tra làm rõ đối với Phạm Đình H về hành vi có dấu hiệu theo tội danh nói trên.
-
[12] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Thị V 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam ngày 11/5/2023.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị V phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Thuỷ Nguyên tiếp tục điều tra, xử lý đối với Nguyễn Thị V về hành vi Làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự; Tiếp tục điều tra làm rõ đối với Phạm Đình H về hành vi có dấu hiệu theo tội danh nói trên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Ninh |
Bản án số 103/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 103/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
