TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/DS- PT
Ngày: 10/5/2024
Về việc: “Tranh chấp về lối đi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang và Bà Triệu Thị Luyện.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 10/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 303/2023/TLPT- DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp lối đi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 103/2023/QĐ-SCBSBA ngày 13/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 46/2024/QĐ-PT ngày 29/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 68/2024/QĐ- PT ngày 28/02/2024 giữa:
*Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T- Sinh năm 1981 (vắng mặt)
Cư trú: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
* Đại diện theo ủy quyền của bà T: Bà Thân Thị Đ – sinh năm 1964
Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường D, TP ., tỉnh Bắc Giang (có mặt)
*Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến S- Sinh năm 1960 (vắng mặt)
Anh Nguyễn Ngọc Đ1, sinh năm1991 là người đại diện theo ủy quyền (có mặt)
Cùng cư trú: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Tạ Thị Đ2- Sinh năm 1964 (vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Ngọc Đ1, sinh năm1991 (có mặt)
- - Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1957 (có mặt)
* Đại diện theo ủy quyền của ông P: Bà Thân Thị Đ – sinh năm 1964
Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường D, TP ., tỉnh Bắc Giang
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956 (Do anh Nguyễn Văn Q là người đại diện theo ủy quyền) - (bà N vắng mặt, anh Q có mặt)
Địa chỉ đều ở: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Nguyễn Ngọc T1- Sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Chị Nguyễn Thị Ngọc H- Sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang- Do ông Bùi Thế T2 – Chủ tịch là người đại diện, Ủy quyền cho ông Vũ Duy H1 – phó chủ tịch UBND xã T (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người kháng cáo: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung bản án sơ thẩm thì nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà T trình bày:
Gia đình bà có 01 thửa đất từ thời ông nội, sau đó ông nội cao tuổi đã tặng cho ông P. Năm 2014 Bố chị đã tặng lại cho hai người con trai là Nguyễn Văn Đ3 và Nguyễn Văn Q thửa đất số 804 và 805, mảnh đất có con đường đi vào giáp với thửa đất nhà ông S. Năm 1993 hợp tác xã bán ao và gia đình nhà ông S đã mua thửa đất giáp với đường đi của nhà chị. Theo sổ đỏ thì đường đi có diện tích là 4.16m. Năm 2013 nhà ông S làm nhà và xây bờ rào. Năm 2022 gia đình ông S làm nhà kiên cố gia đình chị có sang nhà nói chuyện với gia đình ông S, bảo lùi lại cho nhà chị 20cm. Nhưng con trai ông S bảo lùi lại cho nhà chị 1cm. Về nhà mẹ chị có nói chuyện lại với các con và các chị bảo thế cũng được.
Đầu tháng 6/2022 nhà ông S tiến hành dỡ tường bao, gia đình chị lại sang nhà bảo lại một lần nữa và gia đình ông S cũng đồng ý. Đến ngày cắm móng, múc móng thì gia đình ông S không lùi lại như đã nói. Gia đình chị đã làm đơn đến UBND xã T để giải quyết. Chủ tịch UBND xã T và các ban ngành đoàn thể đã về để xem xét và giải quyết tranh chấp nhưng không thành. Ông B cán bộ địa chính cũng bảo gia đình ông S lùi lại 20cm. Nhưng gia đình ông S không đồng ý. Khi đó gia đình chị không cho gia đình ông S làm và yêu cầu mời xã về để giải quyết cho xong thì gia đình ông S mới được làm.
Ngày 20/10/2022 nhà ông S làm nền để đổ bê tông, gia đình chị không cho gia đình ông S đổ bê tông, vì vậy hai gia đình đã xảy ra tranh chấp và xô sát. Nay chị khởi kiện, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa buộc gia đình ông S trả lại
phần diện tích đường đi mà gia đình ông S đã lần chiếm trên sơ đồ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Bị đơn là ông Nguyễn Tiến S trình bày: Năm 1993 khi hợp tác xã có nhu cầu bán đất để lắp điện thì ông cùng với ông Nguyễn Văn K cư trú tại thôn T, xã T có chung nhau mua một thửa đất, lúc đó vẫn là ao, hiện nay là thửa đất mà gia đình ông và gia đình ông K đang ở. Sau khi mua hai gia đình chia mỗi người sử dụng một nửa, phần của gia đình ông đã được cấp GCNQSD đất số S 108346 ngày 27/10/2000 với diện tích 557m2. Trong đó, thửa đất nhà ông một mặt giáp với đất nhà ông Q ( con trai của ông P, em chồng bà T); một mặt giáp với đường đi vào nhà bà T là thửa đất số 804, tờ bản đồ số 11 có địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Sau khi mua đất thì vì gia đình nhà ông chưa chuyển ra ở trên mảnh đất này ở ngay, nên có giao cho nhà ông K sử dụng để làm ao thả cá. Năm 2007 khi nhà nước tiến hành đo đạc lập bản đồ địa chính thì vì gia đình ông chưa chuyển ra ở trên đất mà vẫn đang cho ông K làm ao thả cá nên việc đo đạc như thế nào ông không biết.
Năm 2013 gia đình ông chuyển ra ở trên diện tích đất ao đã mua nói trên để xây dựng và làm nhà ở như hiện nay. Năm 2013 xây dựng công trình, bờ tường và công trình phụ bao quanh. Về phần ranh giới giáp với thửa đất nhà anh Q gia đình ông có cây công trình phụ nên khi xây đã lùi vào khoản 40cm để làm giọt ranh cho nước chảy. Về phần ranh giới giáp với được đi vào nhà bà T thì gia đình ông xây các trụ gạch từ dưới ấy ao lên, C cách khoảng 4 đến 05m lại xây một trụ. Trụ gạch này cao bằng mặt đất thì gia ông đổ một dầm bê tông lên trụ gạch rồi sau đó tiếp tục cây bờ tường cao khoảng 02m trên đỉnh dầm bê tông nay.
Tại thời điểm xây dựng năm 2013 thì ông P là bố chồng của bà T là thợ xây và có tham gia xây dựng công trình của nhà ông. Trong đó có cả các phần mốc ranh giới bao quanh như ông đã trình bày ở trên. Khi xây dựng các công trình cho nhà ông thì ông P không có ý kiến gì, ông P đã đồng ý với các mốc ranh giới mà gia đình ông và ông P xây dựng. Từ năm 2013 đến tháng 9/2022 giữa gia đình ông và gia đình bà T không có bất kỳ tranh chấp hay khúc mắc gì liên quan đến ranh giới đất đai.
Tháng 9/2022 ông tiến hành xây dựng thêm một ngôi nhà nữa nằm ở vị trí giáp với phần đường đi vào nhà bà T, vì vậy ông có tiền hành phá dỡ bức tường cũ mà gia đình ông đã xây năm 2013 đi để tiến hành xây dựng lại. Khi ông xây lại thì ông giữ nguyên ranh giới xây năm 2013 mà không lấn ra thêm chút nào. Lúc đó gia đình ông P, bà N có sang nói chuyện xin nhà ông xây lùi lại khoảng 10 cm. Sau khi thảo luận thì hai gia đình đi đến thống nhất là phía đầu ngoài giáp với đường liên thôn gia đình ông xây lùi lại 10cm tính từ mốc tường cũ xây năm 2013 cộng với 03cm để sau này chát tường, tổng lùi lại là 13cm. Còn phía phần trong gần nhà ông P thì gia
đình tôi xây lùi lại 05cm tính từ mốc tường cũ ông cả chát tường 03cm tổng là 08cm. Lấy hai điểm sau khi lùi này kéo thẳng để tiến hành xây dựng. Sau khi hai gia đình thống nhất thỏa thuận xong thì ông cho thợ vào tiến hành ép cọc và đổ móng để xây dựng.
Tuy nhiên được vai ngày sau khi gia đình ông đang xây dựng thì ông P là bố chồng bà T đi uống rượu về ra đạp phá công trình của gia đình ông, không những vậy còn chửi bới, xúc phạm gia đình ông và nói rằng không thèm xin đất nữa, đổi cho gia đình ông xây lấn chiếm lên đường đi vào nhà ông P.
Sau khi hai gia đình xảy ra xô xát mâu thuẫn thì UBND xã T có cử cán bộ địa chính về đo lại và kết quả là phần nhà ông đang xây dụng nhà mới không có lần chiếm lên phần đường đi vào nhà bà T. Tuy nhiên, gia đình bà T3 không chấp nhận kết quả đo đạc của UBND xã T, thâm chí ông P còn xé biên bản làm việc của bán bộ địa chính, đồng thời lúc này phía ông Q1 (em chồng của bà T) lại yêu cầu nhà ông phải xây lùi vào 15cm mới tiếp tục cho xây dựng.
Sau nhiều buổi hòa giải của UBND xã T nhưng không thành ông nhận thấy yêu cầu của phía gia đình bà T là hoàn toàn vô lý. Do vậy gia đình bà T yêu cầu gia đình ông phải trả lại phần diện tích đã lấn chiếm là 12,8m2 là không có cơ sở.
Người đại diện theo ủy quyền của ông S là anh Nguyễn Ngọc Đ1 trình bày:
Trước đây đường đi là bờ ao, chiều rộng chỉ khoảng 1.5m, sau khi gia đình ông S mua đất của tập thể, tân đất đã để lại đừng đi rộng như hiện nay, chỗ rộng nhất hiện nay trên 3m, chỗ hẹp nhất khoảng 2.7m, đường đi là đường thẳng nên không ảnh hưởng gì về giao thông, đi lại, đây là đường đi chung, không phải là đường được cấp giấy chứng nhận đất cho ành anh T.
Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông S thì hiện nay đất của gia đình ông S còn thiếu khoảng trên 40m² vậy nếu đất của gia đình ông S lấn ra đường đi như bà T khởi kiện thì diện tích đất nhà ông S phải tăng nên, Do đó anh đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: bà Tạ Thị Đ2; chị Nguyễn Thị Ngọc H; anh Nguyễn Ngọc T1: Đều có quan điểm và ý kiến giống như của ông S đưa ra và không bổ sung gì, đồng thời bà D, chị H, anh T1 đều có đơn xin vắng mặt, khi hòa giải và xét xử.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc Đ1 tại bản tự khai và tại phiên tòa trình bày: anh là con trai ông S, anh đồng ý với ý kiến trình bày của ông S, và anh G nguyên quan điểm, ý kiến anh đã trình bày ý kiến giống như của ông S đưa ra và không bổ sung gì.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông P trình bày: Về nguồn gốc thửa đất của anh Nguyễn Văn Đ3: là do cha ông để lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ban đầu là cấp cho ông Nguyễn Văn H2 (Bố đẻ tôi), đến năm 1976 ông H2 chết, sau khi chết thửa đất trên gia đình ông đã tặng cho thửa đất trên cho ông và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông, cấp năm bao nhiêu ông không nhớ do đã lâu, đến năm 2014 thì gia đình ông đã làm hợp đồng tặng cho thửa đất trên cho hai con trai là Nguyễn Văn Đ3; Nguyễn Văn Q và hiện nay thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Đ3 và anh Q ( Con trai ông).
Trước đấy từ thời cha ông thì gia đình vẫn có con đường đi từ đường liên thôn vào nhà chiều rộng của đường khoảng 1,5m, giáp với đường đi vào nhà ông là cái ao của tập Thể, do đường đi nhỏ, khó khăn trong việc đi lại, nên ông có làm đơn đề nghị ra thôn cho gia đình được mở rộng đường, chiều rộng của đường là 4.15m, đến năm 1992 thì theo chủ trường của thôn, bán đất ao để làm điện, làm đường, khi đó thì gia đình nhà ông S đã mua được cái ao trên.
Đến khoảng năm hai nghìn không trăm ninh mấy ông không nhờ cụ thể, thì gia đình ông S tân đất, lấp ao, làm nhà và sinh sống trên thửa đất, khi đó ông S có nói với gia đình ông “Anh cứ cho em nhờ, khi nào em làm nhà lớn thì em rút đất vào cho anh” khi đó chỉ trao đổi miệng với nhau không có văn bản giấy tờ gì, đến năm 2013 thì gia đình ông S xây tường giáp với đường đi vào gia đình ông, tường đó khi xây thì ông S có nhờ ông xây tường cho, khi xây tường cho ông S, thì ông cũng không có ý kiến phản đối gì, từ khi xây tường gia đình ông S đã lấn ra đường đi vào gia đình ông, hiện tại đường chỉ còn rộng khoảng 2.8m, gia đình đi lại khó khăn, ông có sang nhà ông S trao đổi nhiều lần, nhưng ông S không đồng ý.
Đến cuối năm 2022 thì gia đình ông S làm nhà kiên cố, đào đất làm móng, thì tôi lại sang có ý kiến với gia đình ông S để yêu cầu gia đình ông S làm thụt đất lại, nhưng gia đình ông S không đồng ý, đổ móng lất sang phần đất đường đi vào gia đình ông, gia đình ông S lấn đất vào đường đi vào nhà ông khoảng hơn một mét ( Cụ thể bào nhiêu thì tôi không biết), hiện tại đường đi vào nhà ông chỗ rộng nhất khoảng hơn 3m, chỗ hẹp nhất khoảng 2.7m
Trước đây đường nhỏ khoảng 1.5m, ông xin thôn cho mở rộng đường năm bao nhiêu ông không nhớ, khi đó thôn đồng ý, nhưng không có giấy tờ gì, nhưng con đường đi vào nhà ông có thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình mang tên ông; đường thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chiều rộng của đường đi chỗ rộng nhất là 4.15m.
Năm 2022 thì anh Đ3 con ôngchết, hiện nay thửa đất trên chị T (Con dâu) cùng hai con còn nhỏ đang quản lý và sử dụng.
Ông xác định gia đình ông S có lần vào đường đi vào nhà, diện tích lấn bao nhiều ông không biết, chị T có đơn khởi kiện là đúng, ông đề nghị Tòa án án xem xét giải
quyết.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày: bà là mẹ chồng của chị Nguyễn Thị T, chồng bà là ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1957, hiện tại chồng bà đi làm ngoài Hà Nội không có nhà, đi làm đầu tuần, cuối tuần lại về; anh Nguyễn Văn Đ3, chồng của chị T hiện đã chết.
Đối với thửa đất số 804, tờ bản đồ số 11 có diện tích là 416,5m2 tại thôn T, xã T, huyện H có nguồn gốc ban đầu là của vợ chồng bà. Sau đó đến năm 2014 thì vợ chồng bà có làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho hai con là Nguyễn Văn Đ3 và Nguyễn Văn Q.Thửa đất nhà bà tiếp giáp với thửa đất nhà ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1960.
Năm 2014 gia đình bà có cho hai vợ chồng cháu Đ3 và cháu T thửa đất nêu trên và đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cháu Nguyễn Văn Đ3. Quá trình sử dụng đất gia đình nhà bà có một lối đi giáp với thửa đất nhà ông S. Bà không nhớ năm gia đình nhà ông S có mua của Hợp tác xã thôn T 01 cái ao giáp với đất của ông S. Sau khi mua xong ông S có xây bờ kè ao, khi đó bà có nói rõ với ông S là lối đi nhà bà có chiều rộng là 4.16m, lối đi này liên kề với cái ao của Hợp tác xã mà gia đình ông S mua.
Đối với cái ao của Hợp tác xã thì có diện tích 02 sào 12 thước, khi mua thì ông S mua ½ ao vào ông Nguyễn Văn K mua ½ ao phần liền kề nhà ông S. Như vậy, cái ao này được chia ông S và ông K mỗi người ½.
Lối đi nhà bà giáp gần ao nhà ông S mua chứ không giap ao nhà ông K.
Vào khoảng năm 2000 khi ông S xây bờ kè ao thì ông S có hỏi ông P là chồng bà cho xây bờ kè tạm lên lối đi của gia đình tôi và gia đình tôi đã đồng ý cho ông S cây. Gia đình bà có nói rõ là bao giờ mà ông S làm nhà kiên cố thì sẽ phải xây lùi lại(thụt vào) để trả lại lối đi cho gia đình bà như hiện trạng ban đầu.
Đên nay ông S xây nhà kiện cố lại không xây lùi vào mà xây lấn vào lối đi của gia đình bà ở phần đầu giáp phần đất nhà bà là 50cm và phần dưới giáp đường đi của thôn là 30cm. Tổng diện tích mà ông S đã lấn chiếm lối đi của gia đình bà là 12,2m2.
Nay bà yêu cầu gia đình ông S phải trả lại cho gia đình bà phần diện tích đất này để lối đi trở lại như hiện trạng ban đầu.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND xã T trình bày: Thửa đất số 804, tờ bản đồ số 11 chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn Đ3, có nguồn gốc nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ hộ ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị N, thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị N được nhà nước công nhận quyền sửu dụng đất và cấp GCNQSD đất ngày 27/10/2000
Đối với đường đi đang tranh chấp không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn Đ3.
Đường đi thuộc đất giao thông (đất có mục đích công cộng) do UBND xã quản lý.
UBND xã T đã tổ chức xác minh, xem xét các hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tổ chức hòa giải nhưng không thành, quá trình UBND xã T xác minh giải quyết tranh chấp có tranh chấp đất đai và tranh châp đường đi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giải quyết đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T theo quy định, đại diện UBND xã T không có đề nghị, hay yêu cầu gì.
Tại biên bản làm việc tại UBND xã T ngày17/8/2023 (BL 111-114) thành phần gồm đại diện UBND xã T; Cán bộ địa chính xã T; Trưởng thôn T, xã T xác định;Tại thời điểm làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông P tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất; Biên bản xác định ranh mốc giới thửa đất thể hiện đường vào nhà ông P có chiều rộng là 2.43m; Bản đồ xanh năm 1985 chiều rộng khoảng 2.5m; Bản đồ chính quy năm 2007; bản đồ chỉnh lý năm 2017 thể hiện chiều rộng đường đi phần tiếp giáp với đất nhà anh Đ3 hiện nay là 3.32m, phần diện tích đất đường đi đang có tranh chấp giữa gia đình bà T với gia đình ông S không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình anh Đ3;đường đi là đường đi chung thuộc quản lý của địa phương. Hiện tại đường đi có chiều rộng đảm bảo cho việc đi lại; không ảnh hưởng đến giao thông.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 103/2023/QĐ-SCBSBA ngày 13/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự
Căn cứ các Điều 197, 203, 204 Bộ luật Dân sự
Căn cứ các Điều 13, 22, 164, 168 Luật Đất đai
Căn cứ Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc tranh chấp lối đi đối với bị đơn ông Nguyễn Tiến S đối với phần diện tích đất tranh chấp lấn ra đường đi chung theo đơn khởi kiện là 12.8m² đường đi ra đường liên thôn giáp với các thửa đất 810; 809; 804; Thuộc thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Về chi phí xem xét, thẩm định giá: Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định giá số tiền là 3.000.000 đồng và đã chi phí xong. Xác nhận bà T đã nộp đủ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 16/10/2023, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Văn P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T là bà Thân Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và đại diện theo ủy quyền của ông P bà Thân Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T là bà Thân Thị Đ trình bày: Theo kết quả thẩm định lại của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang ngày 12/4/2024 thì gia đình ông S đã lấn chiếm lên diện tích lối đi chung. Bà không yêu cầu xử theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mà phải xử theo nguồn gốc cấp đất. Bà yêu cầu xác minh thu thập tài liệu chứng cứ là hồ sơ mua bán đất ao giữa nhà ông S và ông K.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tiến S là anh Nguyễn Ngọc Đ1 trình bày: Theo kết quả thẩm định thì diện tích thực tế gia đình anh sử dụng là là 531,7m², trong khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình tôi được cấp thì diện tích là 557m². Theo kết quả đo đạc thì lối đi chung đang lấn sang diện tích đất nhà anh nên hiện trạng sử dụng của gia đình anh bị hụt so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 35,3m².
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Ngọc T1 nhất trí với trình bày của bà Thân Thị Đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc T1 nhất trí với trình bày của anh Nguyễn Ngọc Đ1.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- - Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị Đ2, chị Nguyễn Thị Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Ủy ban nhân dân xã T, huyện H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc Tòa án xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại Khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn P, HĐXX xét thấy:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất lấn ra lối đi là dựa trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp tại thửa số 804, tờ bản đồ số 11; Vị trí thửa đất tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang do UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyễn Văn Đ3.
Về tài liệu chứng cứ do tòa án cấp sơ thẩm thu thập thể hiện:
Bản đồ xanh năm 1978 do UBND xã T cung cấp (thể hiện có con đường đi vào đất nhà anh Đ3 là đường đi chung của các thửa đất số 1363; 1410;1431;1411
Bản đồ địa chính chính quy năm 2007 cũng thể hiện (thể hiện có con đường đi vào đất nhà anh Đ3 là đường đi chung của các thửa đất số 804;809;810
Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2000 cho gia đình ông Nguyễn Văn P (cấp lần đầu) diện tích 890m² mang tên hộ ông Nguyễn Văn P Theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất; biên bản xác định ranh, mốc giới thửa đất thể hiện
- - Phía Đông giáp đất ông C1; giáp đất cô L
- - Phía Tây giáp đường
- - Phía Nam giáp đất cô L1 3.25m; Anh H3 12.12m; Đường 2.43 m; anh K 11.89m; anh S 11.89m - Phía Bắc giáp anh T4 21.85m; Anh L2 11.12m
Thể hiện phần đất nhà ông P chiều rộng giáp đường đi là 2.43m)(hiện nay thửa đất hộ ông P đã tặng cho thửa đất cho hai con anh Nguyễn Văn Đ3 thửa số 804; Nguyễn Văn Q thửa số 805.
Tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dựng đất lần đầu của hộ gia đình ông Nguyễn Tiến S diện tích đất lần đầu cấp cho hộ ông S năm 2001 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 557m²; theo kết quả đo đạc thì diện tích đất nhà ông S hiện tại là 524,7m². Như vậy diện tích đất của nhà ông S đã giảm đi, so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu là 32.3m²
Ông P xác định tường ranh giới nhà ông S giáp đường đi được xây từ năm 2013, do chính ông là người xây, nên có thể xác định về ranh giới đất giữa ông S và ông P đã được xác định, ông S sử dụng ổn định từ năm 2013 đến nay không có tranh
chấp, đơn thư gì, hiện nay ông S đã xây móng nhà, bản thân ông S khi xây đã lụi lại một phần diện tích.
Đường đi là diện tích đất đang có tranh chấp không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Văn Đ3, tức đường đi này là đường đi chung, thuộc quản lý của UBND xã T, theo ông Phúc b đẻ anh Đ3 trình bày thì trước đây là bờ ao, chiều rộng khoảng 1,5m; hiện nay về chiều rộng của đường đi điểm hẹp nhất là 2.5m; Tại biên bản xác xác minh tại địa phương thể hiện đường đi vẫn đảm bảo; không ảnh hưởng đến giao thông. Bản án dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã căn cứ vào các tài liệu thu thập được xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc tranh chấp lối đi đối với bị đơn ông Nguyễn Tiến S đối với phần diện tích đất tranh chấp lấn ra đường đi chung theo đơn khởi kiện là 12.8m² đường đi ra đường liên thôn giáp với các thửa đất 810; 809; 804; Thuộc thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn đề nghị thẩm định đo đạc lại diện tích đất tranh chấp. Tòa án đã tiến hành thẩm định với sự có mặt đầy đủ của các bên đương sự, đại diện UBND xã T, Công chức Địa chính Xây dựng UBND xã T. Sau khi đo đạc hiện trạng đất sử dụng của các hộ có tranh chấp, Tòa án nhận thấy gia đình ông Nguyễn Tiến S đã xây dựng các công trình đúng với diện tích đất được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không lấn chiếm ra lối đi chung.
Ngoài những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tại cấp phúc thẩm, ông Nguyễn Văn P không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
Từ những đánh giá trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P giữ nguyên bản án sơ thẩm và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 103/2023/QĐ-SCBSBA ngày 13/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã xử.
[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về chi phí tố tụng: Tại cấp phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P do đại diện theo ủy quyền là bà Thân Thị Đ nộp tạm ứng chi phí thẩm định là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng chẵn). Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông P phải chịu 15.000.000 đồng chi phí thẩm định.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do ông P là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 103/2023/QĐ-SCBSBA ngày 13/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn P phải chịu 15.000.000 (Mười lăm triệu đồng chẵn) đồng chi phí thẩm định. Xác nhận ông P đã nộp đủ chi phí thẩm định.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn P.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi gửi: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa; -Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa; -Các đương sự; -Lưu HS; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 103/2024/DS- PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về lối đi
- Số bản án: 103/2024/DS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về lối đi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi
