Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HSST

Ngày: 09/08/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 06 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 03/07/2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 40/2024/HSST-QĐ ngày 17/07/2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 45/2024/HSST-QĐ ngày 31/07/2024 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn S, sinh năm 1973.

Đăng ký HKTT và cư trú: thôn S, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị S1; vợ: Hoàng Thị T1 và 02 con (lớn sinh năm 1994; nhỏ sinh năm 1999); danh chỉ bản số: 782 lập ngày 09/12/2023 tại Công an huyện C.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/6/2003 bị Công an huyện C, tỉnh Hà Tây (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc; hình thức: Phạt tiền; mức phạt 200.000 đồng (đã chấp hành xong). Đã được xóa.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/06/2009 đến ngày 26/06/2009.

Hiện đang tại ngoại tại địa phương.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Nguyễn Văn K (sinh năm 1962 – chết ngày 20/12/2015)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn K:

  • + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1933 (mẹ đẻ ông Nguyễn Văn k)
  • + Bà Trần Thị N, sinh năm 1968 (vợ ông Nguyễn Văn k)
  • + Anh Nguyễn Đạt T2, sinh năm 1995 (con ông Nguyễn Văn k)
  • + Anh Nguyễn chung T3, sinh năm 2001 (con ông Nguyễn Văn k)

Đăng ký HKTT và cư trú: thôn S, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1982

Đăng ký HKTT và cư trú: Đội 4, thôn S, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.

2. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1975

Đăng ký HKTT và cư trú: Cổ Pháp, thôn S, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/8/2006, ông Nguyễn Văn K điều khiển xe máy đi ra đường xóm thôn S, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. Khi đi ra được khoảng 20 mét thì ông K gặp Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn S cùng trú tại thôn S, xã T, huyện C.

Do ngày 13/8/2006, giữa C và S có xô xát mâu thuẫn với ông K, lý do là ông K cho rằng S và C bắt trộm cá tại ao cá của gia đình ông K nên ngày 27/8/2006, khi gặp ông K, C gọi ông K đứng lại và hỏi “Vừa nẫy mày đi tìm tao à?”. Ông K dừng xe máy lại, trả lời “Hai thằng ranh con này, tao đi tìm chúng mày làm gì?”. C và S xông đến đánh ông K, thì ông K bỏ chạy về ngõ và về sân nhà ông K. Lúc này, S nhặt hòn đá ném về phía ông K, nhưng không trúng.

Khi ông K về đến sân nhà ông K thì ông Nguyễn Văn T (bố đẻ của S) đến sân nhà ông K và nói với ông K: “Mày có giỏi thì đánh tao đây này!”, ông K bảo ông T đi về. Khi ông T đi về ra đến đường xóm, ông K đi theo ra đầu ngõ nhà ông K, thì gặp ba người gồm: Nguyễn Văn N1 (cháu ruột S), Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn C. Lúc này, Nguyễn Văn S nhặt hòn đá ném trúng vào gò má trái ông K, ông K bị ngã ra đầu ngõ thì tiếp tục bị Nguyễn Văn C ném 01 hòn đá vào gò má phải, Nguyễn Văn N1 xông vào dùng tay đấm 1 cái vào thái dương trái và đánh vào chẩm bên trái. Sau đó, S cùng C và N1 bỏ về.

Hậu quả: Ông K bị thương tích, chảy máu nhiều ở vùng đầu, mặt và được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H (nay là Bệnh viện Đ1) cấp cứu, điều trị đến ngày 14/9/2006 ra viện.

* Tại bản Kết luận giám định pháp y (khám thương tích) số: 213/GĐ-PY ngày 22/11/2006 và Công văn số 50 ngày 29/3/2009 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Hà Tây, kết luận thương tích của ông Nguyễn Văn K như sau:

  • “1. Vết thương gãy xương gò má phải tỷ lệ là: 25% tạm thời;
  • 2. Vết thương gãy xương cung tiếp gò má trái tỷ lệ: 21% tạm thời;
  • 3. Vết thương vùng chẩm trái tỷ lệ: 12% tạm thời;
  • 4. Các sẹo phần mềm tỉ lệ: 05% vĩnh viễn.

Cộng các thương tích trên theo nguyên tắc cộng lùi được tổng là: 51% tạm thời."

* Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể qua hồ sơ pháp y thương tích số: 1034/KLTgTHS-TTPY ngày 24/7/2023 của Trung tâm P - Sở Y đối với cơ chế hình thành thương tích trên cơ thể ông Nguyễn Văn K (giám định qua bệnh án), kết luận:

  • “Qua nghiên cứu hồ sơ ông Nguyễn Văn K có các thương tổn sau:
  • - Vết thương vùng đỉnh chẩm trái: Do vật tày có cạnh hoặc có cạnh sắc gây nên.
  • - Bầm tím gò má hai bên, tụ máu bầm tím ổ mắt, gãy xương gò má phải (bờ dưới hốc mắt phải), gãy cung tiếp gò má trái: Do vật tày gây nên.”

Tang vật của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã xác định hiện trường và truy tìm tang vật (là gạch, hòn đá...), nhưng không thu giữ được tang vật liên quan đến vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, ông Nguyễn Văn K (Người bị hại) khai: Xuất phát từ mâu thuẫn với Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn C vào ngày 13/8/2006, sự việc đã được Công an xã T hoà giải. Đến ngày 27/8/2006, tiếp tục xảy ra mâu thuẫn giữa ông K với nhóm S, C, N1. Cụ thể: Ông K bị Nguyễn Văn S dùng hòn đá ném trúng gò má bên trái, Nguyễn Văn C dùng hòn đá ném trúng gò má bên phải, Nguyễn Văn N1 dùng tay đấm vào thái dương bên trái, còn vết thương tại chẩm bên trái thì không rõ ai đánh.

Anh Nguyễn Đạt T2 (con trai ông Nguyễn Văn K) khai nhận: Khi ông K bị đánh gây thương tích, anh T2 ở trong nhà nhìn ra ngõ, cách vị trí ông Nguyễn Văn K bị đánh khoảng 40m, thấy có 3 đến 4 người xông vào đánh ông K. Anh T2 không

nhìn rõ mặt từng người đánh ông K, chỉ nghi cho Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Văn C. Ông K bị đánh trong khoảng thời gian rất nhanh (khoảng nửa phút) thì những người đánh ông K giải tán, còn ông K bò lết vào nhà, trên mặt bị thương tích chảy nhiều máu. Sau đó, không xảy ra sự việc đánh nhau nữa.

Đối với Nguyễn Văn S: Tại Cơ quan điều tra, ban đầu bị can S khai nhận S có hành vi cậy 01 (một) viên đá ở đường ném về phía ông K vì lúc này S thấy ông K cũng cầm đá, nhưng không rõ có trúng ông K hay không. Sau đó, S thay đổi lời khai, S cho rằng không đánh ông K và cũng không rõ ai đánh gây thương tích cho ông K.

Đối với Nguyễn Văn N1: Nam có mặt tại hiện trường, khai nhận: Khi N1 đến, Nguyễn Văn S nói với N1 “Chúng mày gàn ông đi, đánh chết mẹ nó đi, tội đâu tao chịu” và N1 có hành vi dùng tay phải đấm 1 cái vào thái dương trái ông K.

Đối với Nguyễn Văn C: Nguyễn Văn C có mặt tại hiện trường, C không nhận đánh ông K, nhưng nhìn thấy S ném hòn đá về phía ông K nhưng không rõ có trúng ông K hay không.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 20/12/2015, ông Nguyễn Văn K đã mất do già yếu. Ngày 12/11/2023, gia đình ông Nguyễn Văn K có Đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn C và không đề nghị S, N1, C bồi thường gì cho gia đình về dân sự. Đến nay, S, N1, C chưa bồi thường gì cho gia đình ông K.

Cáo trạng số: 190/CT-VKS ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ngày 29/03/2024, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đã ban hành Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số: 04/2024/HSST-QĐ yêu cầu điều tra bổ sung những vấn đề sau:

  1. Điều tra làm rõ có việc Nguyễn Văn S gây thương tích cho ông Nguyễn Văn K hay không, nếu có việc S gây thương tích cho ông K thì gây thương tích ở vị trí nào và với tỷ lệ tổn thương cơ thể do S gây ra cho ông K là bao nhiêu phần trăm (%) để từ đó làm căn cứ quy kết tỷ lệ phần trăm thương tích của ông Nguyễn Văn K do S gây ra.
  2. Điều tra làm rõ trước khi xảy ra xô xát giữa ông Nguyễn Văn K, các đối tượng Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn N1 có sự bàn bạc giữa S, C, N1 hay không để từ đó xác định thương tích của ông K do từng đối tượng gây ra cho ông K

để làm cơ sở trong việc quy kết thương tích mà bị cáo S gây ra cho ông K để bảo đảm tích khách quan của vụ án. Việc phân hóa tỷ lệ phần trăm (%) thương tích của từng đối tượng gây ra cho ông K là cần thiết do việc khởi tố, điều tra, truy tố đối với Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn N1 đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn N1.

Tại Công văn số: 94/VKS-CM ngày 27/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ trả lời Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ có nội dung: Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại bản Cáo trạng số 190/CT-VKS-CM ngày 30/11/2023 đối với Nguyễn Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, gia đình bị cáo Nguyễn Văn S đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ để bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình ông Nguyễn Văn K.

Tại phiên tòa,

  • - Bị cáo Nguyễn Văn S cho rằng giữa bị cáo và ông Nguyễn Văn K không có mâu thuẩn gì từ trước cho đến hôm xảy ra sự việc (ngày 27/08/2006). Nếu có mâu thuẫn thì chỉ có mâu thuẫn giữa Nguyễn Văn C với ông K. Bị cáo không gây thương tích cho ông Nguyễn Văn K. Bị cáo không biết lý do gì mà ông Kê khai bị cáo cùng với Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn N1 gây thương tích cho ông Nguyễn Văn K vì bị cáo và ông K không có mâu thuẫn gì.
  • - Người bị hại là ông Nguyễn Văn K đã mất do già yếu vào ngày 20/12/2015 (theo trích lục khai tử số: 79/TLKT-BS ngày 03/03/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C; đăng ký khai tử số: 278/2015 ngày 26/12/2015). Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn K bao gồm: Bà Trần Thị N (vợ ông Nguyễn Văn k) và anh Nguyễn Đạt T2, chị Nguyễn chung T3 (con ông Nguyễn Văn k) trong quá trình điều tra có quan điểm: Đến thời điểm hiện tại, ông Nguyễn Văn K đã mất, những người gây thương tích cho ông K trước đây đều là người cùng làng, vì tình làng nghĩa xóm nên gia đình không đề nghị xử lý Hình sự đối với những đối tượng đã gây thương tích cho ông K và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn C và không yêu cầu gì về bồi thường thương tích của ông Nguyễn Văn K.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản Cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi

phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật HHHHình sự. Xử phạt Nguyễn Văn S từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian đã tạm giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Văn S bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn K số tiền 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người bị hại, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị hai, người làm chứng, trưng cầu giám định pháp y, giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về điều luật áp dụng: Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội Bộ luật Hình sự năm 1999 đang có hiệu lực pháp luật, tại thời điểm xét xử Bộ luật Hình sự năm 2015 đang có hiệu lực pháp luật. Tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 05 năm đến 15 năm; tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn “từ 05 năm đến 10 năm” nên cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo để xét xử bị cáo theo Bộ luật Hình sự năm 2015.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận, xuất phát từ việc ông Nguyễn Văn K là người thường xuyên uống rượu và thường xuyên gây sự với người khác tại địa phương. Ông K nghi ngờ anh Nguyễn Văn C bắt trộm cá tại ao của gia đình ông K nên hay chửi bới anh Nguyễn Văn C (bạn bị cáo) dẫn đến bị cáo có phần bị bức xúc. Ngày 13/08/2006, do ông K nghi ngờ anh Nguyễn Văn C bắt trộm cá tại ao của gia đình ông K nên đã dẫn đến xô xát, mâu thuẫn nhau và sự việc đã được giải quyết. Đến ngày 27/08/2006 thì tiếp tục mâu thuẫn giữa C và ông K nên giữa C và ông K có lời qua tiếng lại với nhau và dẫn đến xô xát giữa C với ông K. Giữa bị cáo và ông K không có mâu thuẫn gì nên bị cáo không có hành vi dùng đá ném ông K như ông Kê k1 trong quá trình điều tra vụ án.

Tuy nhiên, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, ông Nguyễn Văn K (người bị hại) khai nhận: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa ông Nguyễn Văn K với Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn C vào ngày 13/8/2006, sự việc đã được Công an xã T hoà giải. Đến ngày 27/8/2006, tiếp tục xảy ra mâu thuẫn giữa ông K với nhóm S, C, N1 tại nhà ông K ở thôn S, xã T, huyện C. Cụ thể: Ông K bị Nguyễn Văn S dùng hòn đá ném trúng gò má bên trái, Nguyễn Văn C dùng hòn đá ném trúng gò má bên phải, Nguyễn Văn N1 dùng tay đấm vào thái dương bên trái, còn vết thương tại chẩm bên trái thì không rõ ai đánh. Lời khai của ông K phù hợp với kết luận giám định thương tích trên cơ thể ông K.

Tại Cơ quan điều tra, thời gian đầu Nguyễn Văn S khai nhận S có hành vi cậy 01 (một) viên đá ở đường ném về phía ông K nhưng không rõ có trúng ông K hay không (BL: 23; 86-86A; 97-98; 100-101; 110; 122; 152; 154-155; 156-157).

Nguyễn Văn C có mặt tại hiện trường, cũng khẳng định nhìn thấy S ném hòn đá về phía ông K nhưng không rõ có trúng ông K hay không vì khi đó anh C không nhìn rõ vì bị khuất (BL 104-105).

Nguyễn Văn N1 có mặt tại hiện trường, khai nhận, Nguyễn Văn S nói với N1 “Chúng mày gàn ông đi, đánh chết mẹ nó đi, tội đâu tao chịu” và N1 có hành vi dùng tay phải đấm 1 cái vào thái dương trái ông K (BL: 223-224).

Tại phiên tòa, bị cáo khai giữa bị cáo và ông Nguyễn Văn K không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra ông Nguyễn Văn K đều khai bị cáo dùng đá ném ông K (BL: 82, 83, 84, 85, 93); ông Nguyễn Văn Đ khai (BL: 103) khai “...chị vợ ông K đi xe đạp ra à gọi tôi thằng S, N1, C đánh ông K...”

Do vậy, tại phiên tòa bị cáo cho rằng bị cáo không có hành vi gây thương tích cho ông Nguyễn Văn K là không có cơ sở vì ngoài lời khai của bị cáo còn nhiều lời khai khác chỉ rõ việc bị cáo có hành vi gây thương tích cho ông Nguyễn Văn K.

Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và lời khai của Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn N1 và lời khai của anh Nguyễn Đạt T2 (con trai ông Nguyễn Văn K), diễn biến của quá trình xảy ra xô xát, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Xuất phát từ việc xảy ra xô xát, đánh nhau giữa Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C với ông Nguyễn Văn K từ ngày 13/8/2006 vì ông K cho rằng Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C bắt trộm cá tại ao cá nhà của ông K, nên ngày 27/8/2006 tại khu vực ngõ nhà ông K ở thôn S, xã T, huyện C, lại tiếp tục xảy ra xô xát, Nguyễn Văn S đã có hành vi dùng 01 (một) hòn đá ném trúng gò má bên trái ông K, Nguyễn Văn C có hành vi dùng 01 (một) hòn đá ném trúng gò má bên phải và Nguyễn Văn N1 dùng tay đấm vào thái dương bên trái của ông K. Hậu quả: Ông Nguyễn Văn K bị thương tích tỷ lệ 51% (Năm mươi mốt phần trăm).

Hành vi gạch đá là hung khí nguy hiểm ném vào ông Nguyễn Văn K gây thương tích cho ông K với tỷ lệ tổn thương cơ thể 51% mà Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C thực hiện thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” “gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%” là tình tiết định khung theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố bị cáo Nguyễn Văn S tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tổn hại về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra, ban đầu bị cáo thành khẩn khai báo về việc bị cáo đã có hành vi nhặt hòn đá ném ông Nguyễn Văn K; nguyên

nhân dẫn đến việc bị cáo gây thương tích cho anh K một phần cũng xuất phát từ việc ông K nghi ngờ bị cáo và Nguyễn Văn C bắt trộm cá tại ao của gia đình ông K và có lời nói chửi bới xúc phạm đến bị cáo và Nguyễn Văn C gây bức xúc cho bị cáo; trong thời gian cuẩn bị xét xử, bị cáo và gia đình đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng để bù đắp phần nào tổn thất cho gia đình người bị hại; gia đình người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho những người đã gây thương tích cho người bị hại là ông Nguyễn Văn K. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thương tích của người bị hại không phải hoàn toàn do một mình bị cáo gây ra. Do vậy, cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Văn C cùng với bị cáo Nguyễn Văn S tham gia gây thương tích cho ông Nguyễn Văn K đã đồng phạm với bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3, Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tuy nhiên, thời điểm xảy ra vụ án là ngày 27/8/2006 đến nay đã hơn 17 năm, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Văn Cnên Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Văn C chỉ phải liên đới chịu trách nhiệm về bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật nếu gia đình người bị hại có yêu cầu.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và trong thời gian chuẩn bị xét xử, phía gia đình người bị hại là ông Nguyễn Văn K không yêu cầu các đối tượng gây thương tích cho ông Nguyễn Văn K phải bồi thường do ông Nguyễn Văn K đã mất từ năm 2015 do già yếu. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị hại đã có đơn đề nghị Cơ quan điều tra khép lại vụ án và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho các đối tượng đã gây thương tích cho ông K. Tuy nhiên, gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 10.000.000 đồng nên cần ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bị cáo Nguyễn Văn S bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn Văn K số tiền là 10.000.000 đồng.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra không thu giữ được vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn S 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 22/06/2009 đến ngày 26/06/2009.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bị cáo Nguyễn Văn S bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn K do bà Nguyễn Thị L (mẹ ông K), bà Trần Thị N (vợ ông Nguyễn Văn k) và anh Nguyễn Đạt T2, chị Nguyễn chung T3 (con ông Nguyễn Văn k) là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn K số tiền 10.000.000 đồng đã nộp (theo Biên lai thu tiền Ký hiệu: BLTT/23 số: 0001802 ngày 11/03/2024) tại Chi cục Thi hành án huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
  4. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • + Bị cáo Lê Nguyễn Văn S2 có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
    • + Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn K (người bị hại) là bà Nguyễn Thị L, bà Trần Thị N, anh Nguyễn Đạt T2, anh Nguyễn chung T3 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn N1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ;
  • - UBND xã Tiên Phương, H. Chương Mỹ
  • - Bị cáo;
  • - Gia đình người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HSST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 103/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger