|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 103/2024/HS - ST
Ngày: 04/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Thanh Tuấn
Ông Đinh Văn Cương
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Toà án nhân dân
huyện Lâm Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh T; sinh năm: 1994; tại: Hà Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị P; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: Tại quyết định số 03a/QĐ-XPVPHC ngày 05/01/2021 của Ủy ban nhân dân xã T xử phạt 3.500.000đồng về hành vi trồng cây cần sa; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Hoàng P1, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
2
+ Bà Phạm Thị P, sinh năm: 1968.
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, Lâm Đồng. Có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm: 1966.
Địa chỉ: số F, đường T, phường P, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người làm chứng: anh Bạch Văn T1, sinh năm: 1995.
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 01 năm 2024, Nguyễn Mạnh T có đặt mua trên mạng xã hội Facebook một ống thuỷ tinh sau đó T mang về nhà tại thôn T, xã T, huyện L sử dụng khò và thổi thành cóng để sử dụng ma tuý, khi thổi cóng xong T dùng một nắp chai S và một ống hút có sẵn để ở nhà để gắn vào thành dụng cụ sử dụng ma tuý.
Vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 29 tháng 02 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Mạnh T sử dụng tài khoản Facebook có tên “Mạnh Tường” của mình lên mạng xã hội và tìm được tài khoản của một nhóm có tên “Hội đồng phê”. Tường nhắn tin cho tài khoản này hỏi mua ma tuý loại ma tuý “đá”. Sau khi T nhắn tin thì có một tài khoản tên “49 Methamphetamin” nhắn cho T hỏi địa chỉ và mua ma tuý với số lượng bao nhiêu. T nhắn tin trả lời địa chỉ của mình ở huyện L và mua 500.000đồng tiền ma túy “đá” thì tài khoản này yêu cầu phải chuyển tiền trước sau đó mới giao ma tuý. Tài khoản này gửi cho T tài khoản ngân hàng và yêu cầu chuyển tiền đặt mua ma túy rồi hôm sau sẽ liên lạc lại. Sau khi có số tài khoản thì T gọi điện thoại cho ông Nguyễn Hoàng P1 là chủ nhà thuê Tường làm công lắp đặt nhà kính, T nhờ ông P1 chuyển số tiền 500.000đồng vào tài khoản của người bán ma túy cho mình nhưng không nói rõ mục đích chuyển tiền để mua ma túy. Do ông P1 không sử dụng tài khoản ngân hàng nên ông P1 một mình đi đến một cửa hàng bán điện thoại (ông P1 không nhớ địa chỉ) nhờ chuyển số tiền 500.000 đồng đến tài khoản ngân hàng mà T đưa. Sau khi chuyển khoản thành công, ông P1 gọi điện thoại lại và thông báo
3
cho T biết là đã chuyển tiền thành công. Sau đó, T thông báo lại cho tài khoản bán ma tuý biết và người này hẹn ngày hôm sau sẽ gọi lại cho T.
Đến khoảng 16 giờ ngày 01 tháng 03 năm 2024, tài khoản bán ma tuý gọi lại và nhắc T để ý điện thoại khi nào liên lạc thì đến cầu T thuộc xã T, huyện L để nhận ma tuý đặt mua. Đến 20 giờ cùng ngày, khi T đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi của tài khoản bán ma tuý nói đi lên cầu T để nhận ma túy. Sau khi nghe điện thoại thì T lấy dụng cụ sử dụng ma tuý gồm nắp nhựa màu đỏ, có gắn cóng thuỷ tinh và một ống nhựa màu đen cất vào túi áo khoác trước ngực bên trái mặc lên người rồi một mình điều khiển xe mô tô hiệu Honda Blade màu xanh đen, biển kiểm soát 59D2 – 546.60 đi đến cầu T để nhận ma tuý. Khi đến nơi, T không thấy có người nào đứng chờ ở đây nên gọi lại thì tài khoản bán ma tuý nói với T đi lên khu vực giữa cầu thấy có vỏ bao thuốc lá hiệu Seven thì nhặt lấy ma túy để bên trong. T đi đến gần giữa cầu thì thấy có một vỏ bao thuốc lá hiệu Seven nên nhặt lên mở ra xem thấy bên trong có một gói nylon có chứa ma tuý loại “đá”. T vứt vỏ bao thuốc lá và lấy gói nylon chứa ma tuý cất vào phía trong ốp lưng bọc điện thoại nhãn hiệu SamSung của mình rồi cất điện thoại vào túi quần. Sau đó, T điều khiển xe đi lên nhà Bạch Văn T1 là bạn bè quen biết ngoài xã hội để rủ T1 đi uống cà phê nhưng không nói cho T1 biết việc mua ma tuý trước đó. Khi T đang điều khiển xe mô tô chở T1 đi trên đường T thuộc thôn T, xã T, huyện L thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an đã phát hiện bên trong túi áo khoác màu đen của T đang mặc có dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm một nắp chai nhự màu đỏ, bên trên có gắn 01 cóng thuỷ tinh, 01 ống hút nhựa màu đen và 01 gói nylon chứa chất ma tuý ở phía trong ốp lưng điện thoại của T. Lực lượng công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an Nguyễn Mạnh T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong. 01 nắp nhựa màu đỏ, bên trên nắp có gắn một cóng thủy tinh và một ống hút bằng nhựa màu đen được niêm phong.
Một điện thoại di động hiệu S1 A6 đã qua sử dụng được ốp nắp lưng bằng nhựa màu đen có gắn sim số 082.6197.722 được niêm phong.
4
Một xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu xanh đen, biển kiểm soát 59D2 – 546.60 đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 312/KL-KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh L xác định:
Mẫu tinh thể (M) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2743g (không phẩy hai bảy bốn ba gam), loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKSLH ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Nguyễn Mạnh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T từ 12 đến 15 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Về xử lý vật chứng Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong số 312/2024 có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C1”, “Trần Minh H” và hình dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh L. Bao gồm bao gói vật chứng gửi giám định và mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 nắp nhựa màu đỏ, bên trên nắp có một cóng thủy tinh và một ống hút bằng nhựa màu đen được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Mạnh T, Bạch Văn T1, Trần Minh H, Lý Quốc T2, Lò Hữu T3 và hình dấu tròn đỏ của Công an xã T, huyện L. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6 đã qua sử dụng ốp lưng bằng nhựa màu đen được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Đình D1 và Nguyễn Mạnh T. Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda Blade, mang biển kiểm soát 59D2-546.60 không liên quan đến hành vi phạm tội Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng với quy định của pháp luật nên không xem xét. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
5
Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh T đã khai nhận: Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 01/3/2024, tại thôn T, xã T, huyện L, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,2743g (không phẩy hai bảy bốn ba gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan Công an huyện L phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này đối với chính bản thân mình mà mua ma túy tàng trữ để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội
6
tại địa phương. Bởi vì, ma túy là loại độc dược, gây ra nhiều tác hại đối với người sử dụng và còn là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, về hình phạt đối với loại tội phạm này cũng rất nghiêm khắc.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: xét nhân thân bị cáo không tốt, năm 2021 bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện L xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000đồng về hành vi trồng cây cần sa nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy, cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật trở thành công dân lương thiện, cũng như răn đe phòng ngừa chung; nhằm tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác phòng, chống ma túy trên địa bàn huyện L. Do đó, cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tại phiên tòa
[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính ra, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8]. Đối với đối tượng có tên tài khoản “49 Methamphetamin” bán ma túy cho bị cáo vào ngày 01/3/2024 thì bị cáo không rõ nhân thân lai lịch của người này. Bị cáo lên mạng xã hội facebook thì thấy có tài khoản bán ma túy nên đặt mua. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng có tên tài khoản “49 Methamphetamin” nên Cơ quan
7
cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
[9].Về xử lý vật chứng: vật chứng của vụ án do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thu giữ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện L gồm: 02 phong bì niêm phong số 312/2024 có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C1”, “Trần Minh H” và hình dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh L. Bao gồm bao gói vật chứng gửi giám định và mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là phong bì đựng chất ma túy nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 nắp nhựa màu đỏ, bên trên nắp có một cóng thủy tinh và một ống hút bằng nhựa màu đen được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Mạnh T, Bạch Văn T1, Trần Minh H, Lý Quốc T2, Lò Hữu T3 và hình dấu tròn đỏ của Công an xã T, huyện L là dụng công cụ bị cáo sử dụng ma túy nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6 đã qua sử dụng ốp lưng bằng nhựa màu đen được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Đình D1 và Nguyễn Mạnh T bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Blade, mang biển kiểm soát 59D2-546.60 bị cáo sử dụng để điều khiển đi mua ma túy là tài sản của bà Nguyễn Thị Thúy A làm chủ sở hữu, bà Thúy A gửi xe cho bà Phạm Thị P và giao cho bà P toàn quyền sử dụng. Bị cáo sử dụng chiếc xe này đi thực hiện hành vi phạm tội bà P và bà Thúy A không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Thúy A. Tại phiên tòa hôm nay bà P không có ý kiến và yêu cầu gì còn bà Thúy A vắng mặt, trong hồ sơ thể hiện bà đã được nhận lại xe không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Nguyễn Hoàng P1 là người được bị cáo nhờ chuyển số tiền 500.000đồng vào tài khoản của người đã bán ma túy, khi bị cáo nhờ ông P1 chuyển tiền bị cáo không nói cho ông P1 biết mục đích chuyển tiền để mua ma túy. Tại phiên tòa ông P1 vắng mặt, trong hồ sơ thể hiện ông P1 không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
8
[10]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Mạnh T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tuyên:
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong số 312/2024 có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C1”, “Trần Minh H” và hình dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh L. Bao gồm bao gói vật chứng gửi giám định và mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 nắp nhựa màu đỏ, bên trên nắp có một cóng thủy tinh và một ống hút bằng nhựa màu đen được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Mạnh T, Bạch Văn T1, Trần Minh H, Lý Quốc T2, Lò Hữu T3 và hình dấu tròn đỏ của Công an xã T, huyện L.
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6 đã qua sử dụng ốp lưng bằng nhựa màu đen được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Đình D1 và Nguyễn Mạnh T.
(Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 26/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
9
Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/7/2024), riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sơn Linh |
Bản án số 103/2024/HS - ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 103/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Mạnh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
