Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 103/2025/HS-ST

Ngày: 30/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Trung Chiến.

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Huỳnh Bình

- Bà Nguyễn Ngọc Cúc

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2025/HSST ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2025 ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phạm Thị T, sinh ngày 12/12/1978; Tại tỉnh An Giang; Nơi thường trú: ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nơi ở: ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Họ tên cha: Phạm Văn Y, sinh năm 1930; Họ tên mẹ: Văn Thị P, sinh năm 1937; Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình, có chồng là Ngô Minh T1, sinh năm 1988 và có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 09/12/2024 đến ngày 12/12/2024, hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  2. Họ và tên: Ngô Minh T1, sinh ngày 08/02/1988; Tại tỉnh Đồng Nai; Nơi thường trú: ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nơi ở: ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Họ tên cha: Ngô Văn T2, sinh năm 1959; Họ tên mẹ: Phan Kim Y1, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Phạm Thị T, sinh năm 1978 và có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 08/12/2024 đến ngày 12/12/2024, hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(các bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2022 vợ chồng Ngô Minh T1 và Phạm Thị T thuê đất của ông Nguyễn Đăng T3, sinh năm 1971 và bà Dương Thị M, sinh năm 1970 thường trú tại: C, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B mở quán kinh doanh cà phê, nước giải khát lấy tên “Hồng Thắm” tại ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai và thuê T4, T5, B (không rõ họ, địa chỉ và Nguyễn Thùy N làm nhân viên. Đến năm 2023, do buôn bán ế ẩm và không đủ tiền chi tiêu, T bàn với T1 cho nhân viên kích dục và bán dâm cho khách tại quán nếu có nhu cầu, T1 đồng ý và đi mua tôn về dựng thêm một phòng phía trước sát vách phòng cũ. Sau đó T1, T và các con chuyển lên sống ở phòng mới dựng còn phòng phía sau (phòng cũ) làm nơi cho tiếp viên kích dục và bán dâm. T thỏa thuận với tiếp viên nếu kích dục thì 200.000 đồng/lần, T được hưởng từ 50.000 đồng đến 80.000 đồng; nếu bán dâm thì từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng/lần, T được hưởng 100.000 đồng; nếu tiếp viên đi khách tại nhà nghỉ T được hưởng 50.000 đồng đến 60.000 đồng; ngoài ra tiền nước thì khách tự trả. Các hoạt động buôn bán tại quán chủ yếu do T quản lý, T1 thường xuyên chạy xe nên chỉ phụ T trông coi quán khi rảnh.

Khoảng 21 giờ ngày 07/12/2024, Lê Thanh L, sinh năm 1988 ngụ tại khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến quán của T uống nước. Lúc này có T1, T và Nguyễn Thùy N, sinh năm 1985 ngụ tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai là tiếp viên đang có mặt tại quán. Nhiên đến chỗ L ngồi gợi ý bán dâm giá 250.000 đồng, L đồng ý đi theo N vào phòng thứ hai của quán. Khi L và N đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an huyện V phối hợp Công an xã T kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang, T chạy thoát. Lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Minh T1, củng cố hồ sơ xử lý theo quy định pháp luật.

Ngày 09/12/2024, Phạm Thị T đến Công an thị trấn V, huyện V đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, Công an lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

+ Tang vật, tài sản tạm giữ: 04 bao cao su, 02 khăn ướt, số tiền 130.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo CPH2505 của Nguyễn Thùy N;

T6 tại quán C: 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Thị T, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Ngô Minh T1, 01 xe mô tô biển số 67G1-349.82 bên trong cốp xe có số tiền là 21.000.000 đồng và 01 điện thoại di động samsung A13 (điện thoại của T không dùng vào mục đích phạm tội); 01 điện thoại di động M15 của Ngô Minh T1.

Kết quả xác minh nguồn gốc xe xác định: Xe mô tô Honda Vision biển số 67G1-349.82 do Phạm Thị T đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. T sử dụng xe mô tô phục vụ sinh hoạt hàng ngày không dùng vào mục đích phạm tội.

Đối với số tiền 21.000.000 đồng trong cốp xe mô tô biển số 67G1-349.82 là của chị Phạm Thị H sinh năm 1981 (em ruột T) ngụ tại tổ A, ấp A, xã T, huyện V gửi T1 và T giữ giùm để sửa chữa nhà, không liên quan đến việc phạm tội.

+ Xử lý tang vật, tài sản tạm giữ:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả: 01 xe mô tô Honda Vision biển số 67G1-349.82, 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 điện thoại di động Samsung A13 cho Phạm Thị T; số tiền 21.000.000 đồng cho Phạm Thị H; 01 điện thoại di động Samsung M15 và 01 căn cước công dân cho Ngô Minh T1; 01 điện thoại di động Oppo CPH2505 và số tiền 130.000 đồng cho Nguyễn Thùy N.

Quá trình điều tra, Phạm Thị T và Ngô Minh T1 khai nhận không xác định được số tiền hưởng lợi từ việc chứa mại dâm, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được những người mua dâm khác, nên không có căn cứ thu hồi số tiền thu lợi bất chính.

Tại bản cáo trạng số: 105/CT/VKS - HS ngày 12/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Phạm Thị T và Ngô Minh T1 để xét xử về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1, Điều 327 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • Xử phạt bị cáo Phạm Thị T từ 14 đến 16 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách theo quy định.

  • Xử phạt bị cáo Ngô Minh T1 từ 12 đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách theo quy định.

  • Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 04 bao cao su, 02 tờ khăn ướt.

  • Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, thể hiện:

Phạm Thị T và Ngô Minh T1 thống nhất dựng thêm 01 phòng cho tiếp viên bán dâm tại quán nước “Hồ N" thuộc ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai do T, T1 quản lý mục đích hưởng lợi.

Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 07/12/2024 tại quán nước “Hồ N”, T1 và T đồng ý cho Nguyễn Thùy N là nhân viên quán bán dâm cho Lê Thanh L với giá 250.000 đồng tại quán do T và T1 quản lý.

Phạm Thị T phạm tội vai trò thực hành.

Ngô Minh T1 đồng phạm với Phạm Thị T vai trò giúp sức.

[3]. Do vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Thị T và Ngô Minh T1 đã phạm tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, đồng thời còn xâm phạm đến đạo đức xã hội, truyền thống và thuần phong mỹ tục của dân tộc, đến nếp sống lành mạnh văn minh, đời sống xã hội và trật tự trị an của xã hội. Vụ án này là đồng phạm giản đơn bị cáo T có vai trò là người thực hành, còn đối với bị cáo T1 là người giúp sức cho bị cáo T, nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn đối với bị cáo T1, do vậy cần áp dụng Điều 58 để phân hóa vai trò tội phạm. Do vậy, cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.

[5]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải các bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi hơn nữa các bị cáo cũng bị tạm giữ (3-4 ngày) cũng đủ răn đe các bị cáo, bị cáo T có tình tiết đầu thú theo điểm s, khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt, nên không cần thiết phải phạt tù giam các bị cáo mà cho các bị cáo được phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ nghiêm để răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.

[6]. Xét thấy các bị cáo Phạm Thị T, Ngô Minh T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, có hộ khẩu rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm để cải tạo bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.

[7]. Về xử lý vật chứng:

  1. Đối với 01 xe mô tô Honda Vision biển số 67G1-349.82; 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 điện thoại di động Samsung A13 của bị cáo Phạm Thị T không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

  2. Đối với số tiền 21.000.000 đồng của chị Phạm Thị H không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả cho chị H, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

  3. Đối với 01 điện thoại di động Samsung M15 và 01 căn cước công dân của bị cáo Ngô Minh T1 không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

  4. Đối với 01 điện thoại di động Oppo CPH2505 và số tiền 130.000 đồng của chị Nguyễn Thùy N không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả cho chị N, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

  5. Đối với 04 bao cao su liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

  6. Đối với 02 tờ khăn ướt liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

[8]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo: Phạm Thị T và Ngô Minh T1 phạm tội “Chứa mại dâm”

    • Áp dụng khoản 1, Điều 327; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; 58; 65 của Bộ luật Hình sự. Điều 262; 331; 333; 336; 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng) tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Phạm Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    • Xử phạt bị cáo Ngô Minh T1 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Ngô Minh T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 04 bao cao su và 02 tờ khăn ướt. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

  2. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - CSĐT; THAHS CA tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Trung Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về chứa mại dâm (hình sự)

  • Số bản án: 103/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù , nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng) tính từ ngày tuyên án. - Giao bị cáo Phạm Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. - Xử phạt bị cáo Ngô Minh T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án. - Giao bị cáo Ngô Minh T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger