|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2025/HS-ST Ngày 28-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QÐST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Đặng Khắc S, sinh năm 1985 tại tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Khắc H, sinh năm 1949 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1952; bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/10/2006, bị Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 42 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”; Ngày 04/9/2014, bị C3 (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; Ngày 17/4/2015, bị Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 25/11/2022, bị Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 10 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ1, tỉnh Quảng Bình - Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Công ty T5; địa chỉ: Tầng A, Cao ốc Văn phòng A G, số D Đ, Phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Minh H1 – Chức vụ: Chuyên viên an ninh; địa chỉ liên hệ: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà P, số B N, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Là người đại diện theo uỷ quyền (Giấy ủy quyền ngày 11/6/2024) – Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Ông Lê Văn M1, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Đặng Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ C, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thái C, sinh năm 1988; địa chỉ: Số D N, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đức Khánh T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu dân cư S, thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: Số A N, phường T, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Ông Phan Ngọc T2, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ C, khu phố B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Chí C1, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hoàng Nam K, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị Lệ T3, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trần B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Lăng Thị Thu Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty T5 (gọi tắt là Công ty T5) Việt Nam có ký thoả thuận kinh doanh với các công ty, cửa hàng mua bán xe máy, điện thoại và hàng gia dụng trên địa bàn tỉnh Bình Dương để cung cấp dịch vụ cho vay trả góp. Khi khách hàng đến cửa hàng mua sản phẩm không đủ tiền hoặc không muốn thành toán tiền hàng một lần thì Công ty T5 hỗ trợ khách hàng bằng cách ký hợp đồng tín dụng trả góp với khách hàng để cho vay tiền nhằm mua sản phẩm. Khách hàng sẽ thanh toán tiền góp hàng tháng cho Công ty T5 qua các ngân hàng hoặc qua nhận viên thu nợ của Công ty T5. Theo quy định của Công ty T5 khi ký hợp đồng tín dụng trả góp khách hàng phải trực tiếp có mặt và cung cấp bản chứng giấy chứng minh nhân
dân, sổ hộ khẩu hoặc giấy phép lái xe để nhân viên của Công ty T5 đối chiếu so sách. Sau đó, sẽ chụp hình ảnh khách hàng để lưu hồ sơ và làm hợp đồng tín dụng giải ngân khoản vay trong hợp đồng một lần cho bên bán sản phẩm.
Quá trình làm hợp đồng vay, Công ty T5 phát hiện Đặng Khắc S sử dụng nhiều chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên người khác để ký hợp đồng tín dụng trả góp và chiếm đoạt tiền vay của Công ty T5 như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 11/7/2014, Đặng Khắc S đến Cửa hàng điện máy, điện thoại Hiền Tài; địa chỉ: Ấp A, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương do bà Lại Thị H3 (sinh năm 1987, địa chỉ: Xóm A, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) làm chủ. S mua một điện thoại di động hiệu Nokia XL với giá 4.280.000 đồng, S trả trước cho cửa hàng số tiền 860.000 đồng, số tiền còn thiếu S sử dụng chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn L mà trước đó S nhặt được để ký hợp đồng tín dụng trả góp với Công ty T5 vay số tiền 3.531.000 đồng S giả chữ ký của Nguyễn Văn L trong hợp đồng. Sau khi mua được điện thoại S đem đi bán cho một người không rõ lai lịch. Tiền có được S tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Ngày 20/7/2014, S đến Địa điểm kinh doanh số 06 – Chi nhánh Công ty Cổ phần S1; địa chỉ: Số A Đ, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, S mua điện thoại di động hiệu N1 625 với giá 4.989.000 đồng, phải trả trước cho cửa hàng 1.000.000 đồng, số tiền còn thiếu S sử dụng chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Lê Văn M1 để làm hợp đồng tín dụng với Công ty T5 vay số tiền 4.119.000 đồng, khi nhân viên Công ty T5 làm hồ sơ vay vốn thì S giả chữ ký của ông M1 ký vào hợp đồng tín dụng. Sau khi mua được điện thoại S bán điện thoại lại cho một người đàn ông không rõ lai lịch. Tiền có được, S tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ ba: Ngày 12/8/2014, S đến Chi nhánh Công ty Cổ phần S1; địa chỉ: B Đại lộ B, phường A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. S sử dụng chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Đặng Văn T để mua điện thoại di động hiệu S2 với giá 8.990.000 đồng, S đã trả trước cho cửa hàng số tiền 2.200.000 đồng, số tiền còn thiếu S vay của Công ty T5. S đưa giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Đặng Văn T4 cho nhân viên của Công ty T5 làm thủ tục vay số tiền 7.111.000 đồng, S ký giả chữ ký của ông T4 trong hợp đồng tín dụng với Home C2. Sau khi mua được điện thoại S bán điện thoại cho một người đàn ông không rõ lai lịch. Tiền có được, S tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ tư: Ngày 21/8/2014, S tiếp tục đến Chi nhánh Công ty cổ phần T6, địa chỉ: Số A, đường Đ, phường L, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. S sử dụng chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thái C mua điện thoại di động hiệu S2 với giá 8.990.000 đồng, S đã trả trước cho cửa hàng số tiền 1.800.000 đồng số tiền còn thiếu S vay của Công ty T5. S đưa giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thái C cho nhân viên của Công ty T5 làm thủ tục vay số tiền 7.530.000 đồng, S ký giả chữ ký của ông C trong hợp đồng tín dụng với Home C2. Sau khi mua được điện thoại S bán điện thoại cho một người đàn ông không rõ lai lịch. Tiền có được, S tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ năm: Ngày 25/8/2014, S đến Chi nhánh V; địa chỉ: Số A, đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. S sử dụng chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức H2 mua điện thoại di động hiệu S3 với giá 4.490.000 đồng, S đã trả trước cho cửa hàng số tiền 1.000.000 đồng số tiền còn thiếu S vay của Công ty T5. S đưa giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang Nguyễn Đức H2 cho nhân viên của Công ty T5 làm thủ tục vay số tiền 4.120.000 đồng, S ký giả chữ ký của ông H2 trong hợp đồng tín dụng với Home C2. Sau khi mua được điện thoại S bán điện thoại cho một người đàn ông không rõ lai lịch. Tiền có được, S tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ sáu: Ngày 26/8/2014, S đến Chi nhánh Công ty Cổ phần T7; địa chỉ: Số C Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. S sử dụng chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức Khánh T1 mua điện thoại di động hiệu S4 với giá 6.490.000 đồng, S đã trả trước cho cửa hàng số tiền 1.300.000 đồng số tiền còn thiếu S vay của Công ty T5. S đưa giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức Khánh T1 cho nhân viên của Công ty T5 làm thủ tục vay số tiền 5.359.000 đồng, S ký giả chữ ký của ông T1 trong hợp đồng tín dụng với Home C2. Sau khi mua được điện thoại S bán điện thoại cho một người đàn ông không rõ lai lịch. Tiền có được, S tiêu xài cá nhân hết.
Theo Kết luận giám định số 4022 ngày 26/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chữ viết họ tên “Nguyễn Thái C”, “Nguyễn Đức H2”, Nguyễn Đức Khánh T1” trên các tài liệu giám định (ký hiệu từ A1 đến A3, từ A5 đến A13) so với chữ viết Đặng Khắc S trên các tài liệu mẫu (ký hiện từ M1 đến M6) do cùng một người ký và viết ra.
Đối với chứ kỹ, chữ viết mang tên “Nguyễn thái Châu”, “Nguyễn Đức Khánh T1”, “Nguyễn Văn L”, “Lê Văn M1”, “Đặng Văn T” và chữ ký không ghi rõ họ tên trên các tài liệu giám định chưa đủ căn cứ giám định.
Quá trình điều tra, Đặng Khắc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của S phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Đối với ông L, ông T, ông H2, ông T1, ông C khai thời gian từ đầu năm 2014 có làm mất chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe ở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương. Ông L, ông T, ông H2 không có ký bất kỳ hợp đồng tín dụng trả góp với Công ty T5. Đối với ông M1 qua xác minh không có mặt tại địa phương.
S khai thông tin trong giấy phép lái xe, giấy chứng minh nhân dân là S nhặt được rồi mang đến cửa hàng dùng thông tin trên giấy tờ của họ để mua điện thoại trả góp.
Ngày 25/6/2024, 10/01/2025, 14/02/2025, Công an thành phố T, Công an thành phố T, Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương có Công văn thống nhất cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B xử lý vụ “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do Đặng Khắc S thực hiện.
Quá trình điều tra, Đặng Khắc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 14/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đặng Khắc S về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Trong quá điều tra, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 14/3/2025.
Tại phần tranh luận:
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát theo Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 14/3/2025 đối với bị cáo Võ Đặng Khắc S về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Khắc S từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự, đề nghị Toà án tuyên: Buộc Đặng Khắc S bồi thường số tiền 46.279.000 đồng (trong đó: Tiền gốc 31.770.000 đồng và tiền lãi, phạt hợp đồng 14.509.000 đồng) cho Công ty T5.
Tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm: Bà Nguyễn Thái C, ông Phan Ngọc T2, Phạm Thị Lệ T3, bà Lăng Thị Thu Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án còn lại vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Do tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 có hiệu lực thi hành
nhưng mức hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 không có lợi hơn điểm b khoản 2 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Vì thế, Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm năm 2017, xem xét áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Bị cáo Đặng Khắc S hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ1, tỉnh Quảng Bình về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đặng Khắc S, người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm: Bà Nguyễn Thái C, ông Phan Ngọc T2, Phạm Thị Lệ T3, bà Lăng Thị Thu Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm: Ông Nguyễn Văn L, ông Lê Văn M1, ông Đặng Văn T, ông Nguyễn Đức H2, ông Nguyễn Đức Khánh T1, ông Nguyễn Chí C1, ông Nguyễn Hoàng Khánh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 và Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét thấy sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử, quá trình điều tra những người này đã có lời khai đầy đủ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Đặng Khắc S không có nghề nghiệp ổn định, từ ngày 11/7/2014 đến ngày 26/8/2014, S có hành vi sử dụng chứng minh nhân dân và Giấy phép lái xe của người khác (gồm: Nguyễn Văn L, Lê Văn M1, Đặng Văn T, Nguyễn Thái C, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đức Khánh T1) do S nhặt được đến các cửa hàng trên địa bàn thành phố B, thành phố D, thành phố T và thành phố T và sử dụng thông tin cá nhân của những người này để mua điện thoại trả góp đồng thời ký hợp đồng trả góp với Công ty T5 để thanh toán tiền mua điện thoại với các cửa hàng. Bằng hình thức trên, S đã 06 lần mua điện thoại và ký hợp trả góp với Công ty T5 nhằm chiếm đoạt tổng số tiền là 31.770.000 đồng của Công ty T5. Sau khi mua điện thoại, S đem bán lấy tiền làm nguồn sống chính rồi bỏ trốn. Đối với số tiền từng lần bán tài sản có được S không nhớ bán được bao nhiêu tiền.
Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 14/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công
dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Căn cứ tính chất mức độ, hậu quả của hành vi mà bị cáo thực hiện cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 07/10/2015, bị hại Công ty T5 phát hiện Đặng Khắc S đã sử dụng các giấy tờ cá nhân của người khác để thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của Công ty T5 và có yêu cầu bị cáo trả số tiền đã chiếm đoạt 46.279.000 đồng (trong đó: Tiền gốc 31.770.000 đồng và tiền lãi, phạt hợp đồng 14.509.000 đồng) cho Công ty T5. Căn cứ Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Buộc Đặng Khắc S bồi thường số tiền nêu trên cho Công ty T5.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 136, 260, 290, 292, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Khắc S phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đặng Khắc S 03 (ba) năm tù.
Bị cáo Đặng Khắc S phải chấp hành hình phạt còn lại của Bản án số 339/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Đặng Khắc S phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/6/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 46 và 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc Đặng Khắc S bồi thường cho Công ty T5 số tiền 46.279.000 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi chín nghìn đồng); trong đó: Tiền gốc 31.770.000 đồng (ba mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) và tiền lãi, phạt hợp đồng 14.509.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm lẻ chín nghìn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Khắc S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.313.950 đồng (hai triệu ba trăm mười ba nghìn chín trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 103/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 103/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo S phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
