Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 103/2025/HS-ST

Ngày: 25-6-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Bà Huỳnh Thị Lệ Quyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên

Trong các ngày 11 tháng 6 năm 2025 và 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/HSST ngày 14 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Châu P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không

Sinh ngày: 25/01/1983; Tại: Tiền Giang; Hộ khẩu thường trú: 26 Lầu B, P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: G A, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quan hệ gia đình: Cha: Nguyễn Văn Đ (chết); Mẹ: Nguyễn Thị T,sinh năm: 1956, còn sống; Vợ: Ngô Thị Trúc L, sinh năm: 1984; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm: 2008, nhỏ sinh năm:2013; Bị cáo là con lớn trong gia đinh có 03 anh em;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/12/2024 tại Trại tạm giam C- Phân trại tạm giam khu vực Quận A.

Những người tham gia tố tụng:

- Bị hại: Ông La Công T1 – Sinh năm 1980;

Địa chỉ: 3 L, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Phạm Hoàng M – Sinh năm 1979

Địa chỉ: 2 P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua xe môtô hiệu YAMAHA-125ZR, ông La Công T1 có nhờ ông Trần Phạm Hoàng M, ngụ: 230/18/22 P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu người bán.

Khoảng tháng 04/2023, Nguyễn Châu P lên mạng xã hội Facebook tên “Phuoc Nguyen” xem thấy có đăng tin bán xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA -125ZR, màu vàng - đen, có số khung: PMYKE0600H0303788, số máy: E101EK303788 và để lại số điện thoại của P1 (do thời gian quá lâu nên P không nhớ số điện thoại của P1). Sau đó, P liên hệ với P1 để xem xe và thỏa thuận mua xe môtô trên với P1. P đi lên tỉnh Tây Ninh (phía sau Tòa T) gặp P1 xem xe. P1 nói rõ cho P biết xe không có giấy tờ nhưng P vẫn đồng ý mua xe môtô trên với giá 83.000.000 đồng. P1 đem xe về Thành phố Hồ Chí Minh và giao xe cho P trên đường P. P gặp P1 nhận xe và trả tiền mặt trực tiếp cho P1. Sau đó, P không liên lạc với P1 nữa vì vậy P không biết lai lịch và không còn nhớ số điện thoại của P1.

Vào khoảng tháng 9/2023, thông qua người quen tên Trần Phạm Hoàng M, cư ngụ: 230/18/22 P, phường A, Quận H giới thiệu, P biết ông La Công T1 có nhu cầu mua xe môtô hiệu YAMAHA - 125ZR, màu vàng đen, có số khung: PMYKE0600H0303788, số máy: E101EK303788 của P. Khi bán xe cho ông T1, P không nói cho ông T1 biết xe không có giấy tờ mà nói xe này là xe thanh lý ở 282 đang làm thủ tục, giá bán xe là 160.000.000 đồng. Ông T1 tin tưởng nên đồng ý mua xe của P. Ngày 29/9/2023, P giao xe cho ông T1 tại quán C: 4 N, Phường D, Quận A và nhận 100.000.000 đồng. Sau khi bán xe môtô trên cho ông T1, biết ông T1 có nhu cầu mua biển số đẹp, P đã tư vấn và nói với ông T1 là P có thể lấy được biển số xe: 59U2- 666.68 ở Quận A với giá 50.000.000 đồng. Ông T1 đồng ý mua biển số xe: 59U2- 666.68 với giá 50.000.000 đồng. Ngày 05/10/2023, P hẹn gặp ông T1 tại quán càphê số D N, Phường D, Quận A để giao biển số xe 59U2- 666.68 và nhận số tiền 110.000.000 đồng (gồm 60.000.000 đồng tiền mua xe, cò lạ 50.000.000 đồng tiền là biển số xe). Sau khi nhận được biển số xe 59U2- 666.68 thì ông T1 liên tục hối thúc P phải làm thủ tục ra giấy đăng ký xe cho ông T1 nhưng để tạo niềm tin với ông T1 ngày 25/11/2023, P hẹn ông T1 đến quán cà phê số D N, Phường D, Quận A đưa giấy hẹn đăng ký xe giả cho ông T1 nhưng sau đó P nói ông T1 đưa giấy hẹn lại cho P để lấy cho nhanh, chứ ông T1 lấy thì sẽ lâu. Do tin tưởng, ông T1 đã giao lại giấy hẹn đăng ký xe cho P. Mặc dù, không thể đăng ký xe biển số theo mong muốn được, nhưng khi biết ông T1 muốn đăng ký biển số xe 59U2- 666.69 và biển số xe 59U2- 6666 cho các xe khác. Với ý định chiếm đoạt tiền của ông T1, P nói làm được và đã nhận của ông T1 số tiền 100.000.000 đồng, trong đó nhận tiền mặt 50.000.000 đồng vào ngà 01/11/2023 và ngày 21/11/2023 nhận chuyển khoản 02 lần vào tài khoản 6250119831984 ngân hàng MB Bannk mang tên Nguyen Chau P2 với số tiền 50.000.000 đồng. Tổng cộng P2 đã nhận của ông T1 số tiền 310.000.000 đồng. (BL:118-143)

Do thấy lâu mà P2 chưa làm thủ tục đăng ký xe môtô và chưa giao 02 biển số: 59U2- 666.69 và 59U2- 666.66, ngày 09/01/2024 ông La Công T1 làm đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt số tiền 310.000.000 đồng của Nguyễn Châu P.(BL:31-32)

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã trưng cầu giám định đối với biển số xe. Kết luận giám định số 5981/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: Biển số xe 59U2- 666.68 là giả.(BL:44)

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, bị cáo Nguyễn Châu P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo P khai quen biết Nguyễn Tấn L1 (không rõ lai lịch) vào năm 2018. L1 giới thiệu L1 là cán bộ làm ở Cục C1 Bộ C2, trụ sở: A H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và nói làm được thủ tục, hồ sơ thanh lý đối với xe môtô mà không có giấy tờ. Do tin tưởng nên khi mua được xe không có giấy tờ đăng ký xe thì P liên lạc với L1 và nói có người cần mua biển số: 59U2- 666.68 nên nhờ L1 tìm cho P. Khoảng 01 tuần sau, L1 liên lạc với P và đưa cho P biển số xe: 59U2- 666.68. P đã liên hệ với L1 và ngày 24/11/203 L1 đưa cho P giấy hẹn lấy đăng ký xe tại giao lộ N- H, Quận A nhưng chưa có chữ ký tên của cán bộ đăng ký nên L1 kêu P ký vào. Lúc này P biết giấy hẹn và biển số xe là giả. Số tiền Phong bán xe cho ông T1 là 160.000.000 đồng và tiền làm thủ tục sang tên lấy biển số xe là 150.000.000 đồng thì P đem trả tiền mua xe hết 83.000.000 đồng, đưa L1 làm thủ tục sang tên và thanh lý xe 190.000.000 đồng còn P hưởng lợi được 37.000.000 đồng, P sử dụng vào mục đích cá nhân hết. Đối với tờ giấy hẹn đăng ký xe giả Phong để ở đâu không nhớ. Lời khai của bị cáo P phù hợp với lời khai người bị hại, biên bản đối chất. (BL:117-120, 126-128)

Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 có Công văn gửi Công ty D KV2 cung cấp thông tin chủ thuê bao 0936729318 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời.(BL:110)

Ngày 09/10/2024, Cục C3 có Công văn số 5175/C08-P1 trả lời: Cục Cảnh sát giao thông không có cán bộ tên Nguyễn Tấn L1, sinh năm: 1976, số điện thoại 0936.729.xxx.(BL:112)

Đối với biển số: 59U2- 666.68, qua xác minh do ông Võ Thành Q, Cư ngụ: 338/25/5 A, Phường D, Quận E đứng tên đăng ký. Ông Q cho biết đang sử dụng và không cho ai mượn.(BL:186-189)

Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • 01 biển số giả 59U2- 666.68.
  • 01 xe môtô màu vàng - đen, có số khung: PMYKE0600H0303788, số máy: E101EK303788 – thu giữ của ông La Công T1, xe không có giấy tờ hợp lệ.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Về dân sự: Ngày 04/7/2024, ông T1 nhận số tiền 100.000.000 đồng từ P. Ông La Công T1 yêu cầu bị can P trả lại số tiền 210.000.000 đồng

Tại Cáo trạng số 69/CT-VKSQ10 ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Châu P về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Châu P trình bày: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại La Công T1 số tiền tổng cộng là 115.000.000 đồng. Số tiền này đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trừ vào số tiền 310.000.000 đồng mà Cáo trạng đã truy tố bị cáo lừa ông La Công T1 để xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Đối với số tiền mà bị cáo P đã bồi thường cho bị hại La Công T1 là 115.000.000 đồng thì ông tại phiên tòa ông T1 cũng xác nhận là đã nhận số tiền như trên, nên đề nghị Hội đồng xét xử xác định bị cáo P đã bồi thường được cho bị hại La Công T1 số tiền là 115.000.000 đồng. Số tiền 115.000.000 đồng này được xác định là số tiền bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại chứ không thể trừ vào số tiền 310.000.000 đồng mà bị cáo P bị truy tố chiếm đoạt của bị hại.

Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo, xử phạt bị cáo: Nguyễn Châu P từ 8 (tám) năm 06 tháng đến 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 12 năm 2014.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

[3.1] Về hành vi phạm tội: Vào ngày 29/9/2023, tại quán cà phê số D N, Phường D, Quận A, bị cáo Nguyễn Châu P biết nguồn gốc chiếc xe môtô màu vàng - đen, có số khung: PMYKE0600H0303788, số máy: E101EK303788, là xe không hợp pháp nhưng bị cáo P đã đưa ra thông tin gian dôi là xe đang làm thủ tục thanh lý để ông La Công T1 tin tưởng đồng ý mua xe và giao số tiền 160.000.000 đồng cho bị cáo P, rồi bị cáo chiếm đoạt. Tiếp theo ngày 05/10/2023, mặc dù biết rõ xe không hợp pháp, không thể làm thủ tục đăng ký biển số xe nhưng bị cáo P đã đưa ra thông tin giả là sẽ đăng ký để cấp biển số: 59U2- 666.68 với giá 50.000.000 đồng, tin là thật ông T1 đã giao cho bị cáo P số tiền 50.000.000 đồng, sau khi nhận được tiền bị cáo P đã chiếm đoạt; Ngày 21/11/2023 cũng với thủ đoạn đưa ra thông tin giả là sẽ làm đăng ký đứng tên các biển số: 59U2- 666.69 và 59U2- 666.66 cho các xe khác của ông T1, bị cáo P đã chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của ông T1. Tổng số tiền P đã chiếm đoạt của ông La Công T1 là 310.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình. Qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo P mặc dù biết rõ mình không có khả năng để làm thủ tục đề hợp thức hóa chiếc xe, không có khả năng để cung cấp các biển số đẹp nhưng bị cáo vẫn đưa ra thông tin gian dối để bị hại tin là thật với mục đích để chiếm đoạt tiền của bị hại, và thực tế đã chiếm đoạt chiếm đoạt của ông La Công T1 số tiền tổng cộng là 310.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Châu P đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” . Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo Nguyễn Châu P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng người, đúng tội

[3.2] Tại phiên tòa, bị cáo P trình bày trong quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại La Công T1 số tiền 115.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử trừ số tiền này vào số tiền 310.000.000 đồng mà Viện Kiểm sát đã truy tố bị cáo lừa của bị hại; Vấn đề trên Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã hoàn thành tại thời điểm bị cáo dùng thủ đoạn gian dối và chiếm đoạt được tài sản của bị hại; Còn sau khi đã chiếm đoạt xong thì việc bị cáo trả lại tài sản cho bị hại là nghĩa vụ đương nhiên, nếu bị cáo không tự nguyện thì Hội đồng xét xử cũng buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại khoản tiền này; Do vậy, ý kiến này của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.

[3.3] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội., do vậy cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo.

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên – là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 biển số giả 59U2- 666.68.

Đối với: 01 xe môtô màu vàng - đen, có số khung: PMYKE0600H0303788, số máy: E101EK303788 là công cụ bị cáo P sử dụng vào việc phạm tội không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp; Do vậy giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo trong thời hạn nhất định, nếu không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận, thì đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đều thống nhất bị cáo P đã bồi thường cho ông T1 số tiền 115.000.000 đồng; nên cần buộc bị cáo P phải bồi thường cho ông T1 số tiền còn lại là 195.000.000 đồng.

[7] Vấn đề khác:

[7.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, khi bị hại hối bị cáo P về việc lấy Giấy đăng ký xe thì bị cáo P khai có nhận 01 Giấy hẹn đăng ký xe giả (không có chữ ký, bị cáo P tự ký vào Giấy hẹn này) từ một người tên L1 để lừa bị hại T1, kéo dai thời gian để đối phó với bị hại.

Đối với giấy hẹn đăng ký xe giả, bị cáo P khai để đâu không nhớ, Cơ quan điều tra không thu hồi, giám định được, do ngoài lời khai của bị cáo P là giấy tờ giả không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với P về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

[7.2] Đối với đối tượng tên L1 là người bị cáo P khai sau khi nhận tiền từ bị hại thì P đều chuyển lại hết cho L1 để L1 làm các thủ tục giấy tờ và chỉ hưởng lợi số tiền 37.000.000 đồng. Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thì bị cáo P đều không cung cấp thêm được thông tin nào để làm rõ thêm về nhân thân người đàn ông tên L1. Bị cáo khai quen L1 khi 2 người đi làm thủ tục mua bán xe, không biết nhà L1 ở đâu mà chỉ nghe L1 nói hiện đang làm ở Cục C1 Bộ C2. Mọi giao dịch chỉ bằng cách gọi điện thoại, không nhắn tin với nhau hoặc liên lạc, nhắn tin qua các ứng dụng mạng xã hội khác như zalo, facebook.... Việc bị cáo giao tiền cho L1 cụ thể bao nhiêu lần, ở đâu thì tại phiên tòa bị cáo P cũng không nhớ chính xác và các lần giao nhận tiền Phong khai đều bằng tiền mặt. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh thông tin đối tượng L1 tại Cục C1 nhưng kết quả không có người tên L1 và có số điện thoại như lời khai của P; Cơ quan điều tra cũng tiến hành xác minh số điện thoại của L1 nhưng hiện chưa có kết quả trả lời

Do vậy, đối với đối tượng tên L1, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào có kết quả làm rõ được sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí sơ thẩm:

- Buộc bị cáo Nguyễn Châu P chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng, số tiền án phí án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 9.750.000 đồng (chín triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, (được sửa đổi bổ sung năm 2017)
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Châu 0 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 12 năm 2024.

    Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Châu P

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  4. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 biển số giả 59U2- 666.68.

    Đối với: 01 xe môtô màu vàng - đen, có số khung: PMYKE0600H0303788, số máy: E101EK303788; Giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo trong thời hạn nhất định, nếu không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận, thì đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước

    (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/5/2025 giữa Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Q, Thành phố Hồ Chí Minh)

  5. Về án phí: - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  6. Buộc: Bị cáo Nguyễn Châu P chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 9.750.000 đồng (chín triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng)

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - VKSND Quận 10; (3)
  • - Công an Quận 10; (2)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

Hoàng Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 103/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger