Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 103/2025/HS-ST

Ngày 16/4/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lương, ông Nguyễn Văn Vỹ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tứ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị N (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 03/8/1980; HKTT: Số C tổ D Cụm F phường P, quận T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: 74 ngõ E G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn H - đã chết; Họ và tên mẹ: Vũ Thị T, sinh năm 1957; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Đỗ Ngọc K, sinh năm 1970; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; D chỉ bản số 104 lập ngày 24/01/2025 tại Công an quận H, Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.

    Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

    (Có mặt tại phiên tòa)

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn T1 (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 22/02/1957; HKTT: Số H ngõ E G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số H ngõ E G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Họ và tên bố: Nguyễn Văn S - đã chết; Họ và tên mẹ: Bùi Thị O - đã chết; Bị can là con duy nhất; Vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1957; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1992; D chỉ bản số 105 lập ngày 24/1/2025 tại Công an quận H, Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.

    Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

    (Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Hồng P, sinh năm 1965, HKTT: Tổ D phường G, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).

  2. Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1980, HKTT: Đội 7 X, huyện X, tỉnh Nam Định. ( Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 15 ngày 15/01/2025, tại khu vực đầu ngách A G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường G tiến hành kiểm tra đối với Lê Hồng P (sinh ngày: 06/9/1965, HKTT: Tổ 4 phường G, H, Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, Lê Hông P1 tự nguyện giao nộp 01 tờ tích kê ghi số lô, số đề và khai nhận vừa mua số lô, số đề của Nguyễn Văn T1 tại quán nước ở địa chỉ số H ngõ E G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội. Tổ công tác dẫn giải P1 đến quán nước theo lời khai thì bắt quả tang Nguyễn Văn T1 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề cho Vũ Văn Đ (sinh ngày: 05/3/1980, HKTT: Đội 7 X, X, Nam Định) với số tiền 20.000 đồng. Tại chỗ, Nguyễn Văn T1 thành khấn khai nhận hành vi bán số lô, số đề cho P1 và Đ. Tố công tác đã lập biên bản, thu giữ vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở để làm rõ.

Quá trình điều tra xác định như sau:

Nguyễn Văn T1 mở quán nước tại nhà ở địa chỉ số H ngõ E G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội. Ngày 01/01/2025, Nguyễn Thị N - là hàng xóm của T1 có nói chuyện và ngỏ ý bảo T1 bán số lô, số đề cho khách đê kiêm thêm thu nhập. Đối với số đề, nêu có khách mua thì N chỉ nhận lại 75% số tiền T1 bán số đê cho khách; đối với số lô thì T1 ghi cho khách 22.500 đồng/ 01 điểm, còn N chỉ thu lại từ Thạch 22.000 đồng/ 01 điểm. T1 đồng ý. Sau đó, T1 nhờ 01 người chạy xe ôm không quen biết mua giúp 01 quyền số kết quả kích thước (16x24)cm đề ghi kết quả xô sô hàng ngày cho khách xem, mua 01 quyển tích kê kích thước (07x10)cm đê ghi sô lô sô đề cho khách. Khi có khách mua số lô, số đề, T1 viết tích kê cho khách, chụp lại bằng điện thoại của mình và gửi cho N qua telegram đề theo dõi và tính thăng thua. Kết quả thắng thua tính theo kết quả xố số kiến thiết miền bắc hàng ngày, cụ th: Đối với số đề: Thạch khuyến mại cho khách 10%, nêu khách trúng sẽ được gâp 70 lần số tiền mua số đề; Đối với số lô: 01 điêm lô là 22.500 đồng, nếu khách trúng sẽ được 40.000 đồng. Về lợi nhuận, T1 được hưởng 500 đồng/ 01 điêm lô khách mua, 15% tổng số tiền khách mua số đề (Do N chỉ thu 75% tổng số tiền khách mua số đề nhưng Thạch khuyến mãi cho khách 10% số tiền mua). Việc khách thắng hay thua do N chịu, còn T1 vẫn được hưởng lợi nhuận như trên. Sau khi có kết quả thắng thua, thanh toán với khách và N xong thì T1 sẽ xóa hết hình ảnh, tin nhắn telegram có liên quan. Việc bán số lô đề và thanh toán chỉ giao dịch bằng tiền mặt.

Ngày 15/01/2025, có 01 khách mua số lô 35 - 05 điểm và các số lô (45,74) - mỗi số 20 điểm, tổng số tiền khách mua số lô là 1.460.000 đồng, T1 ghi tích kê cho khách, chụp vào điện thoại rồi đưa tích kê cho khách. Sau đó, tiếp tục có 01 khách mua các số lô (67, 76) - mỗi số 60 điểm và các số đề (67,76) - mỗi số 110.000 đồng, tổng số tiền khách mua số lô đề là 2.900.000 đồng, T1 ghi tích kê cho khách, chụp vào điện thoại rồi đưa tích kê cho khách. Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 15/01/2025, Lê Hồng P đến quán nước của T1, mua các số lô (81, 66) - mỗi số 50 điểm, bộ đề 81 (gồm các số đề: 18, 81, 68, 86, 13, 31, 36, 63) - mỗi số 100.000 đồng, tổng số tiền Phong mua số lô đề là 3.050.000 đồng. P trả tiền mặt cho T1 và cầm 01 tờ tích kê T1 đưa rồi đi vê nhà. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, Vũ Văn Đ đên quán nước của T1, mua các số đề (05, 50) - mỗi số 10.000 đồng. Khi T1 cầm số tiền 20.000 đồng của Đ và đang ghi tích kê cho Đ thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm: 01 tờ giấy kích thước (7x10)cm có viết nội dung "ngày 15 tháng 01 năm 2025 bộ đề 81 x 110, lô 81x50, 66x50, tổng 3050" có chữ ký ở dưới và số tiền 50.000 đồng của Lê Hồng P; 01 quyển kết quả xố số kích thước (16x24)cm, 35 tờ giấy kích thước (7x10)cm, 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 355169425548637 và số tiền 3.200.000 đồng của Nguyễn Văn T1; số tiền 300.000 đồng của Vũ Văn Đ; 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 357143269560477 của Nguyễn Thị N.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T1 tại địa chỉ số H ngõ E G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội và nơi ở của Nguyễn Thị N tại địa chỉ số G ngõ E G, phường G, quận H, thành phô Hà Nội theo Lệnh khám xét khẩn cấp số 138, 139 ngày 16/01/2025 nhưng không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Tiến hành kiểm tra 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 357143269560477, có lắp sim số thuê bao 0383997385 thu giữ của Nguyễn Thị N, phát hiện: Tại ứng dụng telegram có tài khoản "Sắt 1", không có nội dung tin nhăn, cuộc hội thoại nào liên quan đến vụ án; danh bạ điện thoại có lưu sô thuê bao 0961 129988 tên "Sắt 1" - người ghi số lô, số đề thuê cho N. N khai đây là số thuê bao của Nguyễn Văn T1.

Tiến hành kiểm tra 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 355169425548637, lắp sim số thuê bao 0961 129988 thu giữ của Nguyễn Văn T1, phát hiện: Tại ứng dụng telegram có tài khoản "K Huyền 2",, không có nội dung tin nhắn, cuộc hội thoại nào liên quan đến vụ án; danh bạ điện thoại có lưu số thuê bao 0383997385 tên "K Huyên 2"; trong thư mục ảnh có 03 hình ảnh tích kê. T1 khai nhận đây là hình ảnh các tích kê Thạch ghi cho khách ngày 15/01/2025.

Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn T1 giải trình các tờ tích kế, hình ảnh tích kê bị thu giữ, kết quả xác định: Tổng số tiền ghi số lô đề ngày 15/01/2025 của T1 là 7.430.000 đồng. T1 khai nhận: T1 đã dùng một phân số tiền khách mua số lô đề ngày 15/01/2025 để trả cho khách thắng ngày hôm trước nên khi bị bắt quả tang, Công an chỉ thu giữ được của T1 3.200.000 đồng.

Đối với vật chứng thu giữ là tích kê được chuyển cùng hồ sơ vụ án. Đối với các vật chứng gồm: 01 quyển kết quả xổ số kích thước (16x24)cm, 35 tờ giấy kích thước (7x10)cm, 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 355169425548637, 01 điện thoại di động Iphone 11 imei: 357143269560477 và tổng số tiền 3.550.000 đồng được chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàng Mai, để chờ quyết định xử lý.

Công an quận H, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Hồng P và Vũ Văn Đ về hành vi đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ với mức phạt là 350.000 đồng/ 01 người.

Lời khai của Nguyễn Thị N và Nguyễn Văn T1 phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Đối với hành vi ghi số lô, số đề trước ngày 15/01/2025, các bị cáo đã xóa toàn bộ tin nhắn, hình ảnh liên quan đến việc mua bán số lô, số đề, không còn lưu giữ tích kê liên quan, không nhớ đã ghi số lô, đề cho ai, bao nhiêu tiền. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H không đủ căn cứ xác định các bị cáo đánh bạc nhiều lần.

Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKS-HM ngày 27 tháng 3 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt Nguyễn Thị N từ 10 tháng tù đến 14 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 tháng đến 28 tháng.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt Nguyễn Văn T1 từ 08 tháng tù đến 12 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 16 tháng đến 24 tháng.

  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  • * Về xử lý vật chứng:

    • - 01 quyển kết quả xổ số kích thước (16x24)cm thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T1 là vật dụng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

    • - 35 tờ giấy kích thước (7x10)cm thu giữ của ông Lê Hồng P là vật sử dụng để đánh bạc không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

    • - 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 357143269560477 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T1 là vật dụng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

    • - 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 355169425548637 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N là vật dụng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

    • - Số tiền 50.000 đồng thu giữ của của Lê Hồng P, đây là số tiền không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho anh P.

    • - Số tiền 300.000 đồng thu giữ của Vũ Văn Đ, đây là số tiền không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho anh Đ.

    • - Số tiền 3.200.000 thu được của bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1. Đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1 thừa nhận hành vi Đánh bạc; tổng số tiền ghi số lô đề ngày 15/01/2025 của T1 là 7.430.000 đồng tuy nhiên bị cáo T1 khai số tiền này một phần tiền do khách mua lô đề chịu mới báo số tiền ghi mà chưa thanh toán cho bị cáo nên khi cơ quan công an thu giữ được ít hơn số tiền bị cáo ghi lô đề. Bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo Nguyễn Văn T1 không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ nhất mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi bị truy tố:

Tại các Biên bản làm việc cùng các lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện:

Ngày 15/01/2025 tại quán nước ở địa chỉ số H ngõ E G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề thuê cho Nguyễn Thị N. Tổng cộng số tiền đánh bạc là 7.340.000 đồng thì bị cơ quan điều tra Công an quận H phát hiện bắt giữ.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1 đã phạm tội Đánh bạc, được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, tội "Đánh bạc" quy định:

"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiên hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiên từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đên 03 năm"

Bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo Nguyễn Văn T1 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[2.1] Hành vi “đánh bạc” của bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo Nguyễn Văn T1 gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân gây ra những tội phạm khác, gây ra những hệ lụy cho xã hội. Bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo Nguyễn Văn T1 có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét vai trò, mức độ tham gia đánh bạc, cũng như nhân thân của từng bị cáo.

[2.2] Các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; các bị cáo đều “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; đều “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1 đều có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo. Xét thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1 với xã hội, nên căn cứ khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018 của HĐTP TANDTC và Điều 65 Bộ luật hình sự giao bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo Nguyễn Văn T1 cho chính quyền địa phương và gia đình quản lý, giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo.

Xét thấy cả 02 bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1 đều không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321; khoản 3 điều 322 Bộ luật hình sự 2015.

[2.3] Về vật chứng đã thu giữ:

  • - 01 quyển kết quả xổ số kích thước (16x24)cm thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T1 là vật dụng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

  • - 35 tờ giấy kích thước (7x10)cm thu giữ của ông Lê Hồng P là vật sử dụng để đánh bạc không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

  • - 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 357143269560477 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T1 là vật dụng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

  • - 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 355169425548637 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N là vật dụng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

  • - Số tiền 50.000 đồng thu giữ của của Lê Hồng P, đây là số tiền không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho anh P.

  • - Số tiền 300.000 đồng thu giữ của Vũ Văn Đ, đây là số tiền không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho anh Đ.

  • - Số tiền 3.200.000 thu được của bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo Nguyễn Văn T1. Đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[2.4] Các vấn đề khác: Đối với hành vi đánh bạc của Lê Hồng P và Vũ Văn Đ, Công an quận H, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Hồng P và Vũ Văn Đ về hành vi đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ với mức phạt là 350.000 đồng/ 01 người là đúng và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.5] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N: 12 (mười hai) tháng tù về tội: “ Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1: 10 (mười) tháng tù về tội: “ Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho UBND phường G, quận H, thành phố Hà Nội và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T1 cho UBND phường G, quận H, thành phố Hà Nội và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy: 01 quyển kết quả xổ số kích thước (16x24)cm thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T1.

Tịch thu tiêu hủy: 35 tờ giấy kích thước (7x10)cm thu giữ của ông Lê Hồng P .

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 357143269560477 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T1.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 số imei: 355169425548637 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N.

(Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số: NK2025 – 0142 ngày 14 tháng 04 năm 2025.

- Trả lại anh Lê Hồng P số tiền 50.000 đồng.

- Trả lại anh Vũ Văn Đ số tiền 300.000 đồng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 3.200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1.

(Toàn bộ số tiền trên hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai tại Kho bạc Nhà nước quận H theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 20/11/2025. Nội dung ghi:Tiền vật chứng của Nguyễn Văn T1, Lê Hồng P, Vũ Văn Đ trong vụ đánh bạc ngày 15/01/2025 tại phường G.

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo Nguyễn Văn T1 mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo Nguyễn Văn T1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lê Hồng P vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hoàng Mai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Công an quận Hoàng Mai;
  • - Lưu hồ sơ.
  • - Lưu văn phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đánh bạc

  • Số bản án: 103/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 15/01/2025 tại quán nước ở địa chỉ số H ngõ E G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề thuê cho Nguyễn Thị N.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger