Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2025/HS-PT

Ngày 14/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Bà Nguyễn Thị Hân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 128/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn V. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 09/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5, tỉnh Hưng Yên.

* Bị cáo: Trần Văn V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/9/1996 tại tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên); nơi thường trú: Thôn S, xã B, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn S, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình); căn cước công dân số [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị H1; chưa có vợ, chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Từ tháng 02/2016 đến tháng 01/2018 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Tiểu đoàn B, Trung đoàn B, Sư đoàn C, Quân khu C1; bị truy nã, ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 02/5/2025 đến ngày 05/5/2025 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa

* Bị hại: Anh Phạm Như Q, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn K, phường T, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn K, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình). (đã chết)

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Phạm Như Q1, sinh năm 1966 và bà Trần Thị Minh C, sinh năm 1971 (bố mẹ đẻ anh Q); đều ở tại địa chỉ: Thôn K, phường T, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn K, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình). Ông Q1 vắng mặt.

1

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Như Q1: Bà Trần Thị Minh C, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn K, phường T, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn K, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình). Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vũ Anh Đ, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn K, phường T, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn K, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình). Vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn K, phường T, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn K, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình). (mẹ đẻ anh Vũ Anh Đ). Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn S, xã B, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn S, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình). Có mặt.

* Người làm chứng: Anh Vũ Văn K, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn T, xã B, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 05/6/2024, Trần Văn V (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ đen, biển số 17B7-589.82 chở sau là anh Vũ Văn K đi trên đường D hướng từ huyện K, tỉnh Thái Bình đi thành phố T, tỉnh Thái Bình (địa chỉ trước khi sát nhập). Đường 458 gồm hai làn đường rộng 17m, vạch phân làn đường sơn liền, mỗi làn đường được phân thành 02 làn, vạch phân làn đường nét đứt, mặt đường bằng phẳng được trải đá áp phan. Khi đến khu vực ngã ba đường T giao đường B thuộc địa phận thôn K, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là địa phận thôn K, phường T, tỉnh Hưng Yên), lúc này mặt đường khô ráo, đèn điện cao áp và đèn tín hiệu giao thông đang ở chế độ đèn vàng nhấp nháy, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi qua nơi giao nhau nên phần má lốp ngoài lốp bánh trước bên trái xe mô tô biển số 17B7-589.82 do V điều khiển đã va chạm với càng bên phải và trục bánh trước bên phải xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển số 17B1-047.14 do anh Phạm Như Q điều khiển chở sau là anh Vũ A Đ đang rẽ trái đi đường B. Hậu quả: Anh Q bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T sau đó chuyển lên Bệnh viện V2 điều trị đến ngày 01/7/2024 bác sỹ tiên lượng nặng, gia đình xin về nhà và anh Q chết cùng ngày tại gia đình. Anh Đ bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T đến ngày 10/6/2024 xuất viện.

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 26/6/2024 Trần Văn V bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 02/5/2025 về đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H).

2

Tại Phiếu đo nồng độ cồn hồi 07 giờ 25 phút ngày 06/6/2024 của Phòng PC08 Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) xác định: Nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Văn V là 0.000mg/L. Tại phiếu kết quả của Phòng xét nghiệm Medlatec T, thời gian lấy mẫu hồi 09 giờ 38 phút, 09 giờ 32 phút ngày 06/6/2025, xác định: Định lượng cồn trong máu của Phạm Như Q và Vũ A Đ dưới ngưỡng phát hiện.

Tại Kết luận giám định tử thi số 1032/KL-KTHS ngày 18/7/2024, Phòng K1 Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H), kết luận: Trên tử thi anh Phạm Như Q có các vết sây sát da đã đóng vảy, chưa bong vảy, rách da, bầm tụ máu tại vùng đầu, tay và chân; các vết mổ đã khâu chưa cắt chỉ tại vùng cổ, bụng hai bên và bẹn. Do gia đình từ chối giải phẫu tử thi nên không đủ căn cứ kết luận nguyên nhân chết của anh Phạm Như Q.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 6342/KL-KTHS ngày 16/10/2024, V3 Bộ C2, kết luận: Anh Phạm Như Q có các tổn thương và tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể cho từng thương tích như sau: Vết thương cẳng chân 01%; Vết thương bàn chân phải 01%; Tụ máu ngoài màng cứng trán phải 05%; Vỡ xương trán 08%; Gãy xương vách ngăn mũi 07%; Gãy thành xoang hàm phải 07%; Vết mổ đường trắng giữa trên dưới rốn 02%; Cắt nửa đại tràng trái phải, làm hậu môn nhân tạo 56%; Cắt đoạn hỗng tràng - ruột non 36%; Rách thanh cơ tá tràng đoạn D2-D3, đã khâu 03%; Dẫn lưu hồi tràng, 03 dẫn lưu Douglas, 02 dẫn lưu rãnh đại tràng phải, 02 dẫn lưu dưới gan: mỗi vết dẫn lưu 01%. Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phạm Như Q qua hồ sơ là 82% (tám mươi hai phần trăm).

Tại Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 7719/KL-KTHS ngày 26/12/2024, V3 Bộ C2, kết luận: Qua nghiên cứu hồ sơ, không đủ cơ sở để xác định nguyên nhân chết của anh Phạm Như Q.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 416/KLTTCT-TTPY ngày 06/8/2024, Trung tâm P, kết luận: Mi mắt trên bên trái của anh Vũ A Đ có vết sẹo nhỏ; Mặt ngoài gối phải có vết sẹo nhỏ; Gãy xương thành trong và thành trên hốc mắt trái; Vỡ thành xoang trán trái; Mắt trái nhìn mờ, bệnh nhân từ chối đi khám chuyên khoa nên không có căn cứ cho điểm tỷ lệ theo thông tư. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Vũ A Đ tại thời điểm giám định là 17% (mười bảy phần trăm).

Tại Kết luận định giá tài sản số 05A/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố T, tỉnh Thái Bình (trước sát nhập), kết luận: Trị giá một số bộ phận hư hỏng của xe mô tô

3

nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, biển số 17B1-047.14, số khung RLHHC09083Y475916, số máy HC09E-0475990 là 5.600.000 đồng (gồm: Bộ vỏ: 3.000.000 đồng; vai bò chữ A + giảm sóc trước: 1.500.000 đồng; pha đèn trước: 400.000 đồng; vành, nan hoa bánh trước: 700.000 đồng).

Tại Công văn số 2014/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 04/9/2024, Sở Giao thông vận tải UBND tỉnh T trả lời: Trần Văn V, sinh ngày 21/9/1996, địa chỉ: Thôn S, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình, số CCCD: [...] không có thông tin về giấy phép lái xe trên cơ sở dữ liệu của Cục Đ1. Sở G chưa cấp giấy phép lái xe cho Trần Văn V với thông tin trên.

* Về bồi thường thiệt hại:

- Quá trình điều tra, truy tố, bà Trần Thị Minh C là mẹ đẻ của bị hại anh Phạm Như Q và là người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Như Q1 (bố đẻ anh Q) yêu cầu Trần Văn V phải bồi thường tổng số tiền là 1.020.537.000 đồng. Tại đơn đề nghị đề ngày 07/8/2025, bà C thay đổi lại mức yêu cầu bồi thường, theo đó, bà C yêu cầu Trần Văn V phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền là 1.149.262.000 đồng, cụ thể: Viện phí tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T, số tiền là 27.416.000 đồng; viện phí tại Bệnh viện V2, số tiền là 316.548.000 đồng; chi phí tiền mua thuốc ngoài Bệnh viện Đa khoa tỉnh T, Bệnh viện V2 và chi phí cho anh Q theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa, số tiền là 606.548.000 đồng; tiền mai táng phí cho anh Q, số tiền là 70.050.000 đồng; chi phí thu nhập thực tế bị mất/giảm sút của anh Q là 250.000 đồng/ngày x 26 ngày = 6.500.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của bà C (người chăm sóc) anh Q trong thời gian điều trị là 200.000 đồng/ngày x 26 ngày = 5.200.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần là 50 lần mức lương cơ sở, số tiền là 117.000.000 đồng; ngoài ra, bà C không yêu cầu Trần Văn V phải bồi thường thêm khoản chi phí nào khác, chi phí ăn, đi lại của người chăm sóc gia đình bà tự bỏ, bà không đề nghị. Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị H1 (mẹ đẻ Trần Văn V) đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 35.000.000 đồng.

- Quá trình điều tra, truy tố, anh Vũ A Đ yêu cầu Trần Văn V bồi thường tổng số tiền là 154.418.000 đồng. Tại đơn đề nghị đề ngày 08/8/2025, anh Đ thay đổi lại mức yêu cầu bồi thường, theo đó, anh Đ yêu cầu Trần Văn Q2 phải bồi thường cho anh Đ tổng số tiền là 76.925.949 đồng, cụ thể: Viện phí điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T từ ngày 06/6/2024 đến ngày 10/6/2024 là 6.788.232 đồng, sau khi đã trừ bảo hiểm còn 3.824.686 đồng (điều trị tại Khoa phẫu thuật thần kinh cột sống); từ ngày 19/7/2024 đến ngày 30/7/2024 là 6.913.511 đồng, sau khi đã trừ bảo hiểm còn 1.956.263 đồng (điều trị tại khoa Mắt); khám mắt tại Bệnh viện M là 300.000 đồng; thuê phòng tự nguyện là 300.000 đồng x 15 ngày = 4.500.000 đồng; tiền mua thuốc bổ não, thuốc tiêm khi ra viện là 7.085.000 đồng; tiền khám mắt và mua thuốc ngoài điều trị sau khi

4

đã ra viện là 3.860.000 đồng; tiền 02 lần chụp chiếu CT cắt lớp (ngoài hóa đơn) là 3.600.000 đồng; chi phí ăn uống của người chăm sóc (chị V1) là 90.000 đồng x 15 ngày = 1.350.000 đồng; chi phí ăn uống, bồi dưỡng sức khỏe của anh Đ là 150.000 đồng x 15 ngày = 2.250.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của anh Đ là 250.000 đồng/ngày x 15 ngày = 3.750.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc (chị V1) là 250.000 đồng/ngày x 15 ngày = 3.750.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần là 15 lần mức lương cơ sở (2.340.000 đồng) là 35.100.000 đồng; tiền sửa chữa xe mô tô là 5.600.000 đồng. Trần Văn V chưa bồi thường cho anh Đ khoản chi phí nào.

* Về vật chứng, tài sản cơ quan điều tra đã thu giữ, quản lý, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ đen, biển số 17B7-589.82, số khung RLHJK0341PY346938, số máy JK03E-2754693 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển số 17B1-047.14, số khung RLHHC09083Y475916, số máy HC09E-0475990 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 02/5/2025).

Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 21/9/2025, bà Trần Thị Minh C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và về phần trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Bị cáo Trần Văn V khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bà Trần Thị Minh C xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và ghi nhận sự thỏa thuận về trách nhiệm dân sự giữa gia đình bị cáo với gia đình bị hại, gia đình bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tièn số tiền 150.000.000đ, ngoài số tiền này gia đình bị hại không đề nghị, đòi hỏi thêm bất kỳ khoản tiền nào khác, gia đình bị hại đã nhận số tiền trên.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm

5

nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng thêm điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của đại diện gia đình bị hại, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Hưng Yên theo hướng giảm cho bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận thỏa thuận của gia đình bị cáo và gia đình theo yêu cầu của bà C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Người đại diện theo pháp luật của bị hại: bà Trần Thị Minh C làm đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Trần Thị Minh C đại diện gia đình người bị hại.

[2.1] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Văn V.

Xét thấy: Quá trình xét xử bản án sơ thẩm căn cứ vào tình chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đã tuyên bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bị cáo mức án 3 năm 6 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm về phía gia đình bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã thỏa thuận và bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 150.000.000đ, gia đình bị hại đã nhận số tiền trên và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[2.2] Về kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận của gia đình bị cáo và gia đình người bị hại theo đó gia đình bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền số tiền 150.000.000đ ngoài số tiền này gia đình bị hại không đề nghị, đòi hỏi thêm bất kỳ khoản tiền nào khác, gia đình bị hại đã nhận số tiền trên. Xét thấy, thỏa thuận trên hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật, Hội đồng xét xử cần ghi nhận nhận thỏa thuận trên.

Như vậy, quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của đại diện người bị hại giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và ghi nhận nhận thỏa thuận trên của đại diện gia đình bị cáo và gia đình bị hại về trách nhiệm dân sự là có cơ sở.

6

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo nên người đại diện theo pháp luật của bị hại: bà Trần Thị Minh C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. về án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại: bà Trần Thị Minh C. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 09/9/2025 của Toà án nhân khu vực 5, tỉnh Hưng Yên như sau:

    Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 02/5/2025.
  2. Ghi nhận bà Nguyễn Thị H1 là mẹ của bị cáo đã bồi thường cho bà Trần Thị Minh C 150.000.000 đồng. Ngoài số tiền này gia đình bà trần Thị Minh C không đề nghị, đòi hỏi thêm bất kỳ khoản tiền nào khác, gia đình bà C đã nhận đủ số tiền trên.
  3. Về án phí: bà Trần Thị Minh C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo phải nộp 7.500.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hân
Nguyễn Thị Kim Hằng Hoàng Hữu Tăng

8

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Vụ GĐKT1-TANDTC.
  • - Công an tỉnh Hưng Yên.
  • - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND, TA khu vực 5, tỉnh Hưng Yên
  • - Bị cáo Việt;
  • -Trại giam Hưng Yên;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Hữu Tăng

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HS-PT ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 103/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự phúc thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger