TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-5-2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Văn Cẩu
Bà Mai Thị Thu Hà
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Tuyết L, sinh ngày 12-5-1990 (vắng mặt)
Số nhà F, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.
2.Bị đơn: Ông Phạm Văn L1, sinh ngày 07-4-1985 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, tờ tự khai ngày 13-3-2025; quá trình tố tụng và tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 22-4-2025, nguyên đơn bà Cao Thị Tuyết L trình bày:
+Về hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn L1 kết hôn vào năm 2018, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND, xã B, huyện C, tỉnh An Giang số 148 ngày 18-12-2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông L1, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với ông Phạm Văn L1.
+Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Cao Phúc L2, sinh ngày 03-7-2019, hiện bà đang nuôi con. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con.
+Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.
+Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản hòa giải ngày 22-4-2025 và tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Văn L1 trình bày:
+Về hôn nhân: Ông và bà Cao Thị Tuyết L kết hôn vào năm 2018, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND, xã B, huyện C, tỉnh An Giang số 148 ngày 18-12-2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống bên chồng, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay bà L xin ly hôn, ông nhận thấy còn thương vợ thương con nhưng bà L cương quyết ly hôn, nên ông đồng ý ly hôn.
+Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Cao Phúc L2, sinh ngày 03-7-2019, hiện bà L đang nuôi con. Khi ly hôn ông cũng yêu cầu được nuôi con.
+Về cấp dưỡng nuôi con: Ông nuôi con, ông không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
+Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà L, Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nguyên đơn bà L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
[2] Về hôn nhân: Bà L và ông L1 kết hôn vào năm 2018, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND, xã B, huyện C, tỉnh An Giang số 148 ngày 18-12-2018 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Bà L có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa bà L và ông L1, nhưng ông L1 không đồng ý ly hôn, yêu cầu Tòa án hòa giải đoàn tụ. Tại phiên tòa ông L1 đồng ý ly hôn, nhưng bà L vắng mặt nên Hội đồng xét xử không hòa giải thành là công nhận thuận tình ly hôn.
Xét thấy: Quá trình chung sống giữa bà L và ông L1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2022 bà L và ông L1 sống ly thân cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay cả bà L và ông L1 đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông L1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà L được ly hôn với ông L1 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Bà L và ông L1 có 01 con chung, hiện bà L đang nuôi con, khi ly hôn cả bà L và ông L1 đều có yêu cầu được nuôi con.
Xét thấy: Cháu L2 chỉ hơn 5 tuổi hiện bà L đang nuôi con chu đáo. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giao bà L được tiếp tục nuôi con.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L trình bày không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Cả bà L và ông L1 thống nhất trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn bà L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008157 ngày 18-3-2025 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Nguyên đơn bà L vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bị đơn ông L1 có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30-5-2025).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 56, Các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,
Xử:
[1] Về hôn nhân: Bà Cao Thị Tuyết L được ly hôn với ông Phạm Văn L1.
[2] Về con chung: Bà Cao Thị Tuyết L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Phạm Cao Phúc L2, sinh ngày 03-7-2019
Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con được thực hiện theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Cao Thị Tuyết L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008157 ngày 18-3-2025 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[4] Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn bà Cao Thị Tuyết L vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bị đơn ông Phạm Văn L1 có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30-5-2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |
Bản án số 103/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 103/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Cao Thị Tuyết Linh với ông Phạm Văn Lượng
