Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

Bản án số:103/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28/11/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Đồng

Ông Phan Mạnh Tưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 310/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số:57/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Chu Thị T, sinh ngày 14/7/1982.
  • Căn cước công dân số: [...].
  • Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã H, thành phố Hà Nội.
  • - Bị đơn: Ông Phạm Hiền G, sinh ngày 18/7/1959.
  • Căn cước công dân số: [...].
  • Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã H, thành phố Hà Nội.
  • (Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là bà Chu Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Hiền G tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 05/5/2009 tại UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội (nay là xã H, thành phố Hà Nội). Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc mới nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm vào khoảng cuối năm 2024 thì mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm, lối sống, thường xuyên cãi vã, xung đột trong cuộc sống. Bà đã tìm nhiều biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2024 đến nay, mỗi người cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng đã hết, bà xin ly hôn với ông Phạm Hiền G.

- Về con chung: Bà và anh Phạm Hiền G có 01 con chung là cháu Phạm Quỳnh N, sinh ngày 18/11/2010. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cháu N ở với ông G. Nay ly hôn, bà đề nghị giao ông G trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Việc cấp dưỡng nuôi con bà tự thỏa thuận với ông G.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/10/2025, cụ Trần Thị H (là mẹ đẻ của ông Phạm Hiền G) trình bày: Ông Phạm Hiền G và bà Chu Thị T kết hôn năm 2009, ông bà chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã, không có hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2024, bà T không còn chung sống cùng ông G và gia đình bà. Nay bà T xin ly hôn thì ông G đã biết, ông G có quan điểm đồng ý ly hôn với bà T; về con chung: Ông G và bà T có 01 con chung là cháu Phạm Quỳnh N, sinh ngày 18/11/2010. Hiện nay cháu N ở với ông G. Nay ly hôn, ông G có quan điểm xin được nuôi dưỡng cháu N, việc cấp đưỡng nuôi con thì vợ chồng tự thỏa thuận; về tài sản chung và nợ chung thì vợ chồng ông G và bà T không có gì.

Tại Biên bản xác minh ngày 17/10/2025, tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố Hà Nội thể hiện: Ông Phạm Hiền G và bà Chu Thị T có đăng ký kết hôn số 35, quyển số 01, ngày 05/5/2009 tại UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội (nay là xã H, thành phố Hà Nội). Hiện nay đời sống chung giữa ông G và bà T xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Địa phương đã nhiều lần khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng ông G và bà T đã sống ly thân, hiện bà T không còn sinh sống cùng ông G tại địa phương. Ông G và bà T có 01 con chung là cháu Phạm Quỳnh N, sinh ngày 18/11/2010. Hiện nay cháu N đang sinh sống cùng ông G tại địa phương. Quan điểm của địa phương: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Chu Thị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Hiền G vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hà Nội (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôn nay, bị đơn mặc dù được Tòa án nhiều lần giao các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không đến làm việc, nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

  • - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Chu Thị T, xử cho và Chu Thị T được ly hôn ông Phạm Hiền G.
  • - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Quỳnh N, sinh ngày 18/11/2010. Bà T đề nghị giao cháu N cho ông G trực tiếp nuôi dưỡng, thông qua mẹ đẻ của ông G thể hiện ông G có quan điểm xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Do vậy, giao cho ông G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Phạm Quỳnh N, sinh ngày 18/11/2010 đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con các bên tự thỏa thuận và không có yêu cầu nên không xem xét.
  • - Tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Bà Chu Thị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Bà Chu Thị T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn ông Phạm Hiền G nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Phạm Hiền G có đăng ký thường trú tại: thôn Đ, xã H, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hà Nội theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Chu Thị T và ông Phạm Hiền G được xây dựng trên cơ sở tìm hiểm tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội (nay là xã H, thành phố Hà Nội) vào ngày 05/5/2009 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, ông G vắng mặt, thông qua mẹ đẻ của ông G là bà Trần Thị H xác định ông G có quan điểm đồng ý với yêu cầu xin ly hôn bà T. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông G đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về con chung:

Bà Chu Thị T và ông Phạm Hiền G có 01 con chung Phạm Quỳnh N, sinh ngày 18/11/2010. Con chung khỏe mạnh và hiện nay đang ở với ông G. Xét yêu cầu giao con chung Phạm Quỳnh N cho ông G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc của bà T, Hội đồng xét xử thấy: Từ khi bà T và ông G ly thân đến nay, cháu N sinh sống, học tập ổn định với ông G, được chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường. Đồng thời, thông qua mẹ đẻ của ông G là cụ Trần Thị H xác định ông G có quan điểm xin nuôi cháu N và tự thỏa thuận với bà T về việc cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, bản thân cháu N có đơn thể hiện quan điểm xin ở với ông G. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung nên cần thiết chấp nhận yêu cầu của bà T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội, theo đó giao cháu Phạm Quỳnh N cho ông G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do bà T và ông G có quan điểm tự thỏa thuận và không có yêu cầu nên không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung:

Đương sự không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí:

Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 35, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội (nay là xã H, thành phố Hà Nội) cấp ngày 05/5/2009;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Chu Thị T đối với ông Phạm Hiền G.

    Xử bà Chu Thị T được ly hôn ông Phạm Hiền G.

  2. Về con chung: Xác nhận bà Chu Thị T và ông Phạm Hiền G có 01 con chung Phạm Quỳnh N, sinh ngày 18/11/2010.

    Giao con chung Phạm Quỳnh N, sinh ngày 18/11/2010 cho ông Phạm Hiền G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do bà T và ông G có quan điểm tự thỏa thuận và không có yêu cầu nên không xem xét. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà Chu Thị T đến khi có quyết định thay đổi khác.

    Sau khi ly hôn bà Chu Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Chu Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011685 ngày 14/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Chu Thị T và bị đơn ông Phạm Hiền G vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 12 - Hà Nội;
  • - Phòng THADS khu vực 12 - Hà Nội;
  • - UBND xã Hồng Sơn, TP Hà Nội;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Việt Cường

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 103/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số:103/2025/HNGĐ-ST, ngày: 28/11/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger