Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 103/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/5/2025.

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Thuý Hằng;

Ông Phạm Văn Huấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Dương Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1997.

Nơi thường trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1988.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ hiện nay: Hàn Quốc.

Tại phiên có mặt chị H, vắng mặt anh D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, được bổ sung tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa vào năm

2

2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Hải Y (giới tính: nữ), sinh ngày 10/5/2017 và cháu Nguyễn Thị Kim N (giới tính: nữ), sinh ngày 04/5/2021. Ly hôn chị H đề nghị Toà án giao cháu Y và cháu N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị.

- Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị H trình bày: hiện nay anh D đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc từ khoảng năm 2022 nhưng chị không biết địa chỉ cụ thể của anh D tại Hàn Quốc và không còn liên lạc được với anh D nên không thể cung cấp địa chỉ của anh D cho Toà án. Chị có tìm cách liên hệ với người thân của anh D nhưng không nhận được kết quả. Chị cho biết anh D vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2, cùng trú tại: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, đề nghị Toà án thu thập thêm thông tin từ bố mẹ đẻ anh D.

Tại biên bản làm việc ngày 04/4/2025 của Toà án nhân nhân tỉnh Thanh Hoá, ông Nguyễn Văn H1 trình bày: ông là bố đẻ của anh Nguyễn Văn D và là bố chồng của chị Vũ Thị H. Anh D1 và chị H kết hôn với nhau năm 2016. Đến năm 2022 thì anh D1 sang Hàn Quốc làm việc, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Nay chị H làm đơn khởi kiện ly hôn anh D1 thì gia đình ông cũng thống nhất và không có ý kiến gì vì sau khi ông trao đổi với anh D1 thì anh D1 cũng đồng ý ly hôn. Về con chung thì anh D1 và chị H có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Hải Y (giới tính: nữ), sinh ngày 10/5/2017 và cháu Nguyễn Thị Kim N (giới tính: nữ), sinh ngày 04/5/2021. Kể từ khi chị H chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống thì cháu Y và cháu N sinh sống cùng với chị H, hiện nay anh D1 đang đi làm ăn xa nên nếu anh chị ly hôn thì đề nghị Toà án giao cháu Y và cháu N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D1 và chị H cũng không có tài sản, công nợ gì chung.

Ông H1 không biết địa chỉ cụ thể của anh D1 ở Hàn Quốc. Anh D1 cũng hay gọi điện thoại về cho vợ chồng ông nhưng không nói rõ cho ông biết địa chỉ của anh D1 ở đâu. Ông H1 cam kết sẽ nhận các văn bản tố tụng của Toà án và thông báo cho anh D1 biết.

3

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng

[1. 1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Vũ Thị H khởi kiện vụ án về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; bị đơn là anh Nguyễn Văn D trước khi xuất cảnh có nơi thường trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, hiện nay anh D đang sinh sống tại Hàn Quốc. Vì vậy Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại Công văn số 429/XNC(T3) ngày 04/3/2025 của Phòng Q, Công an tỉnh T cung cấp: Ngày 29/8/2022, anh D sử dụng hộ chiếu C9181715 xuất cảnh qua sân bay N, đến nay chưa thấy thông tin nhập cảnh về nước. Phòng Q không lưu trữ thông tin, dữ liệu về địa chỉ, quốc gia và vùng lãnh thổ mà công dân xuất cảnh đến.

[1. 2] Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Chị H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh D trước khi xuất cảnh ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ nơi anh D đang sinh sống hiện nay tại Hàn Quốc. Toà án đã yêu cầu nhưng ông Nguyễn Văn H1 là bố đẻ của anh Nguyễn Văn D trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh D ở Hàn Quốc. Anh D1 thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể hiện nay của anh ở nước ngoài. Toà án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng cho anh D1 và giao các văn bản tố tụng cho ông H1 nhận thay cho anh D1, ông H1 cam kết sẽ thống báo lại cho anh D1 biết nội dung các văn bản tố tụng của Toà án. Vì vậy Toà án giải quyết vụ án theo hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

4

[1. 3] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh D1.

[2] Về nội dung vụ án:

[2. 1] Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Anh Dũng sang Hàn Quốc sinh sống và làm việc từ năm 2022 cho đến nay nhưng anh không còn liên lạc với chị H. Xác minh tại địa phương cũng thể hiện cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh D đã phát sinh mâu thuẫn. Như vậy có thể khẳng định cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị được ly hôn anh D.

[2.2]. Về con chung: Chị H và anh D có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Hải Y (giới tính: nữ), sinh ngày 10/5/2017 và cháu Nguyễn Thị Kim N (giới tính: nữ), sinh ngày 04/5/2021. Ly hôn chị H đề nghị Toà án giao cháu Y và cháu N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị. Việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, anh D hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc, không có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Chị H mặc dù là lao động tự do nhưng có thu nhập, chỗ ở ổn định. Hiện nay cháu N và cháu Y đang sinh sống cùng với chị H, chị H vẫn nuôi dưỡng và chăm sóc các cháu đảm bảo tốt về mọi mặt, cháu N cũng có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, có cơ sở để chấp nhận nguyện vọng của chị H là được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Y, cháu N, không yêu cầu anh D đóng góp tiền nuôi con chung cùng với chị.

[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

5

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
  2. Về con chung: Chị H và anh có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Hải Y (giới tính: nữ), sinh ngày 10/5/2017 và cháu Nguyễn Thị Kim N (giới tính: nữ), sinh ngày 04/5/2021. Ly hôn giao cháu Y và cháu N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị H.

    Anh Dũng có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0000583 ngày 14/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá, chị H đã nộp đủ án phí.

Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Dũng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoà Lộc, H. Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá (ĐK 2016);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thu Phương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 103/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Hà khởi kiện ly hôn Nguyễn Văn Dũng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger