Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 3 - 2025.

Về “Tranh chấp Hôn nhân

và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo.

Ông Trần Mai Khanh.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 17 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 617/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Lê Thị T, sinh ngày 11/10/1998;

    Nơi ĐKHKTT: xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi sinh sống và làm việc: 845 G, G, thành phố G, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).

    - Người đại diện theo ủy quyền giao, nhận văn bản tố tụng của chị T: chị Luân Thị N, sinh 1994. Nơi cư trú: số F, ngách A, ngõ D, đường V, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội.

  2. Bị đơn: anh Trần Văn H, sinh ngày 28/12/1994; Nơi cư trú: xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lê Văn L và bà Thái Thị H1. Địa chỉ: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn - chị Lê Thị T như sau:

Chị và anh Trần Văn H tự nguyện yêu thương và đăng ký kết hôn ngày 07/3/2018 được UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 12. Thời gian đầu kết hôn chị T, anh H chung sống hạnh phúc được khoảng vài tháng đầu, nhưng càng về sau càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Năm 2019 thì vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H thường xuyên chơi cờ bạc cá độ nên vợ chồng xẩy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống. Năm 2021, chị T cùng con xin phép về bên ngoại sinh sống. Đầu năm 2023, chị T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc cho đến bây giờ. Cuộc sống vợ chồng xa cách, lâu dần không còn quan tâm đến nhau và không nói chuyện với nhau nữa. Mặc dù cả hai đã cố gằng hòa giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai gia đình cũng đã nhiều lần can thiệp nhưng mục đích hôn nhân không thể cứu vãn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung cũng đã mất, nên chị T đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Trần Văn H.

Về con chung: chị T, anh H có 01 con chung là Trần Lê Bảo N1, sinh ngày 17 tháng 9 năm 2018. Hiện nay, cháu đang sống cùng ông bà ngoại Lê Văn L, Thái Thị H1 tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị T mong muốn Tòa giao quyền chăm sóc con chung cho chị, chị tiếp tục nhờ ông L, bà H1 (ông bà ngoại) của cháu thay chị chăm sóc cháu N1 cho đến khi chị về Việt Nam.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 24/02/2025, bị đơn – anh Trần Văn H trình bày: anh H thừa nhận về điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn cũng như nguyên nhân mâu thuẫn như chị T đã khai. Tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, anh đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: anh H, chị T có 01 con chung là: Trần Lê Bảo N1, sinh ngày 17 tháng 9 năm 2018. Hiện nay cháu N1 đang học lớp 1 tại Trường tiểu học D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Năm 2021 cháu N1 sinh sống cùng chị T và ông bà L, bà H1. Anh H hiện nay đi làm ăn ở phía nam, sức khỏe yếu, công việc không ổn định, thu nhập bấp bênh, không đủ kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Để cho cháu N1 có cuộc sống ổn định và tiếp tục học hành. Ly hôn, anh H đồng ý giao con chung cho cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, và anh cũng nhờ ông Lê Văn L, bà Thái Thị H1 (ông bà ngoại) cháu chăm sóc cháu N1 cho đến khi chị T về Việt Nam.

Về cấp dưỡng nuôi con: hiện nay công việc của tôi bấp bênh, thu thập thấp. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng, tôi cũng đồng ý. Nếu sau này thu nhập khá hơn, anh sẽ tự nguyện cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu giải quyết, tôi cũng đồng ý, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng của cháu Trần Lê Bảo N1: Từ ngày mẹ cháu đi nước ngoài đến nay cháu ở với ông bà ngoại. Hiện nay cháu đang ở học lớp 1 tại Trường tiểu học D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Bố mẹ cháu ly hôn cháu mong muốn được ở với mẹ và tiếp tục được ở với ông bà ngoại để được đi học. Vì hiện nay bố H cháu đi làm ăn xa, vất vả.

Theo đơn bản tự khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Lê Văn L, bà Thái Thị H1 trình bày:

Chị T và anh H có 01 con chung Trần Lê Bảo N1, sinh ngày 17 tháng 9 năm 2018, hiện nay cháu N1 đang học lớp 1 tại Trường tiểu học D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Năm 2023 chị T đi nước ngoài làm ăn, có nhờ chúng tôi chăm sóc nuôi dưỡng từ đó cho đến nay, còn bố cháu (anh H) đi làm ăn xa, sức khỏe yếu, thu nhập bấp bênh không có điều kiện, kinh tế để chăm sóc cháu. Nếu Tòa án giao cháu N1 cho con gái tôi (T) chăm sóc, nuôi dưỡng, chúng tôi đồng ý chăm sóc cháu N1 thay con gái tôi (T) cho đến khi T về Việt Nam.

Về chi phí nuôi dưỡng con chung của chị T, anh H: ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng cháu là hoàn toàn tự nguyện. Chi phí sinh hoạt, học hành của cháu là do mẹ cháu (T) gửi về cho chúng tôi. Nay các con ly hôn, chúng tôi không yêu cầu chị T, anh H hoàn trả chi phí này. Ông bà không có tranh chấp gì với các con, nên nghị Toà án xét xử vụ vắng mặt.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa theo qui định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.1] Về thẩm quyền: bị đơn - anh Trần Văn H có địa chỉ cư trú tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nguyên đơn - chị T hiện nay cư trú tại: H G, G, thành phố G, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38, Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về thủ tục hòa giải: vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay chị T, đang ở nước ngoài và đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, là phù hợp khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn - chị Lê Thị T: có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh tại xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi sinh sống và làm việc: 845 G, G, thành phố G, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc, chưa có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị T đã ủy quyền cho chị Luân Thị N, cư trú: số F, ngách A, ngõ D, đường V, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội nộp hồ sơ khởi kiện (có chứng thực của Đ tại Hàn Quốc) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn anh Trần Văn H: đã trực tiếp đến Tòa án để làm việc và tiếp cận công khai chứng cứ. Tuy nhiên, do công việc đi làm xa, đi lại khó khăn nên đã có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Lê Văn L, bà Thái Thị H1 đã nhận được thông báo thụ lý, thông báo phiên họp và Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông L, bà H1 đã có bản tự khai gửi cho Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng kết hôn số 12 ngày 07/3/1018 của Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Trần Văn H là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, do chị T, anh H bất đồng quan điểm sống. Năm 2021 chị T cùng con gái về nhà ông L, bà H1 (bố mẹ đẻ) sinh sống. Năm 2023 chị T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ đó đến nay chưa về. Mặc dù giữa chị T, anh H đã rất cố gắng, hai bên gia đình cũng đã góp ý, khuyên nhủ, nhưng không thể hoà hợp và mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị T và anh H sinh sống và làm việc ở đất nước khác nhau. Chị T sinh sống làm việc ở Hàn Quốc, còn anh H sinh sống, làm việc tại Việt Nam, vợ chồng sống xa nhau nhưng không còn quan tâm đến nhau. Mục đích xây dựng cuộc sống hạnh phúc không đạt, tình cảm đời sống vợ chồng không thể kéo dài, nên cần ghi nhận sự thống nhất và thỏa thuận, xử cho chị Lê Thị T và anh Trần Văn H được ly hôn.

2.2. Về con chung: chị Lê Thị T và anh Trần Văn H có 01 con chung là Trần Lê Bảo N1, sinh ngày 17 tháng 9 năm 2018, hiện nay cháu N1 đang học lớp 1 tại Trường tiểu học D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Chị T có mong muốn được chăm sóc và nuôi dưỡng con chung và anh H đã cũng đồng ý giao quyền chăm sóc con chung cho chị T.

Xét: sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái qui định pháp luật và đạo đức xã hội. Cháu N1 hiện nay đang sống cùng ông Lê Văn L, bà Thái Thị H1 (ông bà ngoại cháu) tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh H cũng đang đi làm, sức khỏe yếu, thu nhập bấp bênh, không đủ khả năng để chăm sóc cháu N1, nên đồng ý giao quyền nuôi con cho chị T và anh cũng nhờ ông L, bà H1 (ông bà ngoại) cháu thay chị T chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1 cho đến khi chị T về Việt Nam. Ông L, bà H1 cũng đã tự nguyện đồng ý chăm sóc cháu N1 thay chị T cho tới khi chị T về Việt Nam.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu, miễn xét.

Ông L, bà H1 không yêu cầu hoàn tiền công chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị Lê Thị T, anh Trần Văn H, nên miễn xét.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: chị Lê Thị T, anh Trần Văn H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: chị T, anh H thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, nên các phải đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên 25%).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84, 104, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, 37, 38, 39; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Trần Văn H.
  2. Về con chung: ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận của các bên như sau:

    Giao chị Lê Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Lê Bảo N1, sinh ngày 17 tháng 9 năm 2018 đến đủ 18 tuổi, trưởng thành.

    Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

    Chi nhận sự tự nguyện của ông Lê Văn L, bà Thái Thị H1 về việc ông L, bà H1 chịu trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh H, chị T là cháu Trần Lê Bảo N1 trong thời gian chị T ở nước ngoài cho tới khi chị T về Việt Nam.

    Về cấp dưỡng và chi phí chăm sóc con chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T1 về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:

    Chị Lê Thị T phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí; Trả lại cho chị Lê Thị T số tiền 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013598 ngày 04/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Trần Văn H phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm (anh H chưa nộp).

  5. Về quyền kháng cáo:
    • - Anh Trần Văn H, ông Lê Văn L, bà Thái Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật
    • - Chị Lê Thị T, đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Hoa, H.Diễn Châu;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 103/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger