Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:103/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/3/2025

Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đệ

Bà Ngô Thị Yêm

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 14/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 635/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Quốc T – Sinh năm 1983; Nơi thường trú và nơi ở: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 16/8/2021.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D – Sinh năm 1989; Nơi thường trú và nơi ở: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Đăng ký quản lý cư trú và Dữ liệu quốc gia về dân cư cấp ngày 29/02/2016.

Có mặt anh T, chị D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo anh Phạm Quốc T trình bày:

Về tình cảm: Anh T và chị Nguyễn Thị D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Vợ chồng anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 11/01/2008. Sau khi kết hôn anh chị sống chung với bố mẹ đẻ anh tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Anh và chị D chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau trong lối sống và trong làm ăn kinh tế nên thường xuyên xảy ra xích mích, cãi vã nhau. Đến khoảng cuối năm 2022, chị D có nói với mẹ đẻ anh T về việc chị sẽ ra ở riêng còn để anh T nuôi dưỡng các con chung. Sau đó chị D chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị tại thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Anh T cũng đã nhiều lần đến nhà mẹ đẻ chị D để nói chuyện nhưng chị D tránh mặt không nói chuyện với anh T nên vợ chồng anh chị vẫn ly thân từ đó cho đến nay. Sau này anh T mới biết chị D không quay về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên khi anh xuống nhà bố mẹ đẻ chị D để tìm chị nhưng không gặp, thỉnh thoảng chị D chỉ về thăm con xong lại đi ngay.

Gia đình hai bên có biết về việc vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn dẫn tới ly thân và cũng đã nói chuyện để hòa giải cho vợ chồng anh chị nhưng không thành. Chính quyền địa phương chưa lần nào can thiệp, hòa giải mâu thuẫn vợ chồng vì vợ chồng anh chị không ai có yêu cầu và cũng chưa lần nào đánh cãi nhau gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Đến nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị ly hôn với chị Nguyễn Thị D.

Về con chung: Anh T và chị D có 02 con chung là cháu Phạm Quốc A – Sinh ngày 04/01/2009 và cháu Phạm Quốc V – Sinh ngày 08/7/2010. Ngoài ra vợ chồng anh chị không có con chung, con riêng hay con nuôi nào khác.

Cả hai con chung đang ở với anh T, sức khỏe các cháu tốt. Khi ly hôn anh T đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con chung vì các cháu vẫn đang ở với anh. Anh T không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

Hiện nay anh T đang làm lái xe, thu nhập khoảng 13.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung, công sức và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản chung, nợ chung và công sức chung.

Đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị D, Tòa án đã tiến hành các thủ tục xác minh tại nơi cư trú xác định: Chị Nguyễn Thị D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Xác minh tại chính quyền địa phương thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội cung cấp về việc chị D không sinh sống với bố mẹ đẻ tại thôn P. Anh Võ Hoài N là em rể chị D có lời khai xác định về việc chị D không sinh sống tại thôn P mà chị chỉ thỉnh thoảng về thăm bố mẹ xong lại đi, gia đình cũng không biết địa chỉ nơi chị D sinh sống. Vì vậy, xác định nơi cư trú cuối cùng của chị D là tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Nguyên Thị D1 tại nơi chị D1 đăng ký Hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng chị D1 không liên hệ với Tòa án và cũng không có ý kiến phản hồi về các yêu cầu ly hôn của anh Phạm Quốc T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; Tòa án đã xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; Tòa án đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa diễn ra công khai, dân chủ, đề cập đến mọi vấn đề phải giải quyết trong vụ án.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Về nội dung: Đề nghị Toà án tuyên :

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xử cho anh T được ly hôn với chị D1.
  • + Về con chung: Giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung khi ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con vì không có yêu cầu.
  • + Về tài sản chung của vợ chồng: Không giải quyết do không có yêu cầu.
  • + Về án phí: Vụ án áp dụng án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật dân sự. Chị D1 có Hộ khẩu thường trú tại địa bàn huyện Đ, như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử và tranh tụng tại phiên toà: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần 2, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, dành quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Quốc T và chị Nguyễn Thị D tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 11/01/2008 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với nhau cùng với bố mẹ anh T tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Qua lời khai của anh T: Anh T và chị D chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau trong lối sống và trong làm ăn kinh tế nên thường xuyên xảy ra xích mích, cãi vã nhau. Đến khoảng cuối năm 2022, chị D có nói với mẹ đẻ anh T về việc chị sẽ ra ở riêng còn để anh T nuôi dưỡng các con chung. Sau đó chị D chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị tại thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Tôi cũng đã nhiều lần đến nhà mẹ đẻ chị D để nói chuyện nhưng chị D tránh mặt không nói chuyện với anh T nên vợ chồng anh chị vẫn ly thân từ đó cho đến nay. Sau này anh T mới biết chị D không quay về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên khi anh xuống nhà bố mẹ đẻ chị D để tìm đều không gặp mà thỉnh thoảng mới về thăm con.

Xét thấy giữa anh T, chị D có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc hòa giải để vợ chồng đoàn tụ không thực hiện được do không xác định được chị D đang sinh sống ở đâu. Anh T và chị D đã từ cuối năm 2022 cho đến nay. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T.

[3] Về con chung: Anh T và chị D có 02 con chung là cháu Phạm Quốc A – Sinh ngày 04/01/2009 và cháu Phạm Quốc V – Sinh ngày 08/7/2010. Ngoài ra vợ chồng anh chị không có con chung, con riêng hay con nuôi nào khác. Các con chung hiện nay đang ở với anh T. Chị D không thể hiện ý kiến của mình đối với việc nuôi dưỡng con chung khi ly hôn. Do đó, yêu cầu của anh T về việc được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung khi ly hôn là có căn cứ chấp nhận.

Về vấn đề cấp dưỡng: Anh T không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét là có căn cứ.

[4] Về tài sản chung của vợ chồng: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị D không có ý kiến, yêu cầu gì đối với việc giải quyết về vấn đề tài sản chung vợ chồng. Do đó, Tòa án không giải quyết về vấn đề tải sản chung của vợ chồng.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Phạm Quốc T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Quốc T với chị Nguyễn Thị D. Anh Phạm Quốc T được ly hôn chị Nguyễn Thị D.
  • - Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Phạm Quốc A – Sinh ngày 04/01/2009 và cháu Phạm Quốc V – Sinh ngày 08/7/2010 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi các con chung thành niên, có khả năng tự lập về kinh tế hoặc có sự thay đổi khác.
  • - Về vấn đề cấp dưỡng: Không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có yêu cầu.
  • - Về tài sản của vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  • - Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Phạm Quốc T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/23số 0071634 ngày 25/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, anh Phạm Quốc T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THA huyện Đông Anh;
  • - UBND xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh,
  • thành phố Hà Nội (GCN kết hôn số 10
  • ngày 11/01/2008);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 103/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân gia đình sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger