TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 103/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/6/2025 V/v “ Tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đức Duy;
- Bà Huỳnh Thị Ngọc Thuận;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vinh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Song - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trương Hồng P, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Trần Thị H, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(có mặt anh P, vắng mặt chị H)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 15/01/2025, bản tường trình ngày 14/01/2025 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Trương Hồng P trình bày:
Anh Trương Hồng P và chị Trần Thị H là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã D (nay là xã B), huyện C, tỉnh Tiền Giang. Trong quá trình chung sống, anh chị thường cãi vả, bất hòa trong cuộc sống, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn lại được.
Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh các vấn đề sau:
- Về hôn nhân: Anh yêu cầu được ly hôn với chị H.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Thảo T, sinh ngày 01/01/1997; và Trương Thành P1, sinh ngày 17/10/2003. Hiện 02 con chung đã tưởng thành, có khả năng lao động nên anh không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh P trình bày không có.
- Về nợ chung: Anh P trình bày không có.
* Bị đơn Trần Thị H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù chị đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập tham dự các phiên hòa giải và công khai chứng cứ, tham dự phiên tòa sơ thẩm, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ. Chị H cũng không nộp cho Tòa án văn bản phản hồi đối với các yêu cầu khởi kiện của anh P.
Tại phiên toà hôm nay
- - Anh P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với chị H.
- - Chị H vẫn vắng mặt không lý do.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang trình bày ý kiến:
+ Về phần thủ tục, kể từ thời điểm thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành và tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã không chấp hành và không tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án, trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp “Ly hôn”.
[2] Về tố tụng: Mặc dù bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa sơ thẩm, nhưng chị H đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H.
[3] Về hôn nhân: Anh Trương Hồng P và chị Trần Thị H xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp, được Ủy ban nhân dân xã D (nay là xã B), huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 64, ngày 16/12/2003. Tại phiên toà hôm nay, anh P trình bày nguyên nhân chính anh quyết định ly hôn với chị H là vì trong quá trình chung sống hai anh chị không có “tiếng nói chung”, thường xuyên cãi nhau, không thể chia sẻ mọi việc trong cuộc sống. Anh chị đã ly thân hơn 10 năm nay, không còn liên lạc với nhau. Khi rời khỏi nhà chồng, chị H để lại 02 con chung để anh một mình chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, anh P khẳng định đã hết tình cảm với chị H và kiên quyết ly hôn với chị, mong được Tòa án chấp nhận yêu cầu này của anh.
Đối với chị H, nhiều lần được Toà án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham dự phiên tòa, nhưng chị đều vắng mặt không có lý do, chị H cũng không có văn bản phản hồi đối với các yêu cầu khởi kiện của anh P. Từ đó cho thấy chị H không có thiện chí hàn gắn tình cảm với anh P.
Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh P và chị H như lời anh P trình bày có một phần phù hợp với nội dung biên bản xác minh ngày 20/3/2025 (bút lục số 14).
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xét yêu cầu xin ly hôn chị H của anh P là có cơ sở, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Thảo T, sinh ngày 01/01/1997; và Trương Thành P1, sinh ngày 17/10/2003. Hai con chung đã trưởng thành, lao động tự lo cho bản thân được, anh P cũng không yêu cầu giải quyết đối với con chung. Từ đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét vấn đề con chung.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh P trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Tòa án cũng không nhận được ý kiến phản hồi của chị H đối với hai vấn đề này, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác.
[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Tiền Giang là hoàn toàn phù hợp với phân tích nêu trên của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận toàn bộ.
[7] Về án phí: Anh P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Áp dụng điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Hồng P đối với bị đơn Trần Thị H.
- Về hôn nhân: Anh Trương Hồng P được ly hôn với chị Trần Thị H.
- Về con chung: Không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí:
Anh Trương Hồng P phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, cấn trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012490 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, anh P đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.
3/ Về quyền kháng cáo:
Anh Trương Hồng P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Trần Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HUỲNH THỊ TRÚC MAI |
Bản án số 103/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 103/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Trương Hồng P và Trần Thị H
