|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10-3-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Huyền Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nhung
Ông Nguyễn Đình Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 924/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Yến N, sinh năm: 1983 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Căn hộ B, chung cư T, C Bờ Bao T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Võ Bá P, sinh năm: 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Căn hộ B, chung cư T, C Bờ Bao T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn yêu cầu ly hôn, bản tự khai và biên bản hoà giải tại Toà án, nguyên đơn - bà Lê Thị Yến N trình bày:
Bà Lê Thị Yến N và ông Võ Bá P kết hôn với nhau vào năm 2007, sau đó vào năm 2018 bà và ông P ly hôn. Tới năm 2020, bà và ông P đăng ký kết hôn lại theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2020 ngày 05/3/2020 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu tái hợp, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, sau đó do cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do sự khác biệt trong suy nghĩ và cách sống nên bà N và ông P thường xuyên cãi vã. Bà N và ông P đã ly thân từ hơn 06 tháng nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà N yêu cầu ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà N và ông P có 02 con chung tên Võ Kim N1, sinh ngày 22/8/2008 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/7/2010. Khi ly hôn, bà N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn ông Võ Bá P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông P đều vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà N nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Nguyên đơn bà Lê Thị Yến N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.
- - Bị đơn ông Võ Bá P vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 19, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, đề nghị giao 02 con chung tên Võ Kim N1, sinh ngày 22/8/2008 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/7/2010 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án trên là tranh chấp ly hôn, ông P hiện đang cư trú tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân quận T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa của nguyên đơn bà Lê Thị Yến N đề nghị Tòa án xét xử vụ án ly hôn không có sự tham gia của bà. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng bà N theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét bị đơn ông Võ Bá P đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung:
- Về yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Yến N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hôn nhân giữa bà Lê Thị Yến N và ông Võ Bá P là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2020 ngày 05/3/2020 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Xét thấy mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông P là có thật. Bà N ông P đã ly hôn lần thứ nhất năm 2018 và đăng ký kết hôn lại năm 2020 nhưng vẫn không có sự gắn kết. Mặt khác, ông P đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến các buổi hoà giải tại toà, điều này cho thấy ông P không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nhận thấy mâu thuẫn hôn nhân giữa bà N và ông P là trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà N và ông P có 02 con chung tên Võ Kim N1, sinh ngày 22/8/2008 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/7/2010. Khi ly hôn, bà N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Do ông P không đến Toà nên không thể ghi nhận ý kiến của ông P về vấn đề con chung. Tại biên bản ghi nhận nguyện vọng của trẻ Võ Kim N1 và Võ Tấn T, cả 02 trẻ trình bày hiện đang ở chung với bà N và đều có nguyện vọng xin tiếp tục được ở mẹ. Xét thấy, để ổn định cuộc sống và tâm lý của trẻ và yêu cầu được nuôi con của bà N là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp thuận và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2024.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Yến N không yêu cầu ông P cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà N, không buộc ông P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà N đề nghị tự thoả thuận. Về nợ chung: Bà N trình bày không có. Do ông P vắng mặt tại phiên toà nên Hội đồng xét xử không xét, sau này nếu phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện bằng một vụ kiện khác
- Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị Yến N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0045322 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 68, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Lê Thị Yến N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Võ Bá P.
- Quan hệ hôn nhân của bà Lê Thị Yến N và ông Võ Bá P chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2020 ngày 05/3/2020 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp cho bà N và ông P không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Kim N1, sinh ngày 22/8/2008 và Võ Tấn T, sinh ngày 10/7/2010 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông P do bà N không yêu cầu.
- Trong trường hợp bà N không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, bà N hoặc ông P hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Trường hợp ông P lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
- - Về tài sản chung: Bà N đề nghị tự thoả thuận. Về nợ chung: Bà N trình bày không có. Do ông P vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét, sau này phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
- Về án phí: Bà Lê Thị Yến N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0045322 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo:
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bà Lê Thị Yến N, ông Võ Bá P được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Huyền Minh |
Bản án số 103/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 103/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
