TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 4 - 2025 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Trường An
Ông Bùi Xuân Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1992 (Xin xét xử vắng mặt)
- Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Kim T trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2013 bà và ông Nguyễn Tuấn A kết hôn, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T tỉnh An Giang. Thời gian chung sống, do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay bà xét thấy không thể nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, tiếp tục chung sống không hạnh phúc nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A.
- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 22/6/2013. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Tuấn K, không yêu cầu ông Tuấn A cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Tuấn A, quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng ông Tuấn A vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Kim T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Tuấn A hiện đang cư trú tại xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là ông Nguyễn Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do, bà Nguyễn Kim T yêu cầu xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông Tuấn A.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Tuấn A được xác lập vào năm 2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang nên hôn nhân của bà T và ông Tuấn A là hợp pháp. Xét về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn thì bà T xác định do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp bà xét thấy không thể nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, chung sống không có hạnh phúc nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A. Trong khi đó, ông Nguyễn Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến phản hồi, điều đó cho thấy ông Tuấn A không có thiện chí để hàn gắn với bà T. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của bà T và ông Tuấn A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Kim T, cho bà T ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Nguyễn Kim T và ông Nguyễn Tuấn A có 01 con chung là Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 22/6/2013, khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Đơn trình bày nguyện vọng đề ngày 04/02/2025 cháu Nguyễn Tuấn K xác định mẹ chăm sóc yêu thương từ nhỏ, cuộc sống chỉ có hai mẹ con chăm sóc lẫn nhau, nếu cha mẹ ly hôn thì cháu mong muốn được tiếp tục sống chung với mẹ. Trong khi đó, ông Tuấn A cũng không có ý kiến phản hồi với yêu cầu về nuôi con của bà T nên Hội đồng xét xử giao Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 22/6/2013 cho bà Nguyễn Kim T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Nguyễn Tuấn A không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
2
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu về cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Kim T xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Nguyễn Tuấn A thì vắng mặt và không có ý kiến gì về phần tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về phần tài sản, nợ chung thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Kim T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 53, Điều 56, 58, 69, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim T, cho bà Nguyễn Kim T ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A.
- Về con chung: Giao Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 22/6/2013 cho bà Nguyễn Kim T có nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.
Ông Nguyễn Tuấn A không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà T.
- Về án phí: Bà Nguyễn Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà T đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0005169 ngày 05/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
3
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Yến Phương |
4
Bản án số 103/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 103/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn do mâu thuẫn gia đình
