Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 103/2025/DS-PT

Ngày: 28 - 5 - 2025.

V/v: “ Tranh chấp hợp đồng thuê lại

quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Các thẩm phán: Ông Lê Văn Duy

Ông Trần Bá Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tú Oanh- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:167/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số:125/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 250/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1973; trú tại: Tổ E, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: anh Nguyễn Việt K, sinh năm 1975; nơi cư trú: số nhà A, L, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định (Giấy ủy quyền số:3437 ngày 20/12/2023); có mặt.

Bị đơn: anh Lê Văn H, sinh năm 1972; trú tại: Khu T, thị xã A, tỉnh Bình Định; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1979; trú tại: Khu T, thị xã A, tỉnh Bình Định; vắng mặt(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Công ty trách nhiệm hữu hạn X; địa chỉ: số C L, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Đại diện theo pháp luật: bà Bùi Thị Minh V, sinh năm 1950; chức vụ: Giám đốc công ty.

Đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Việt K, sinh năm 1975; nơi cư trú: số nhà A L, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định (Giấy ủy quyền số 3444 ngày 21 tháng 12 năm 2023); có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn anh Lê Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2022, bản khai ngày 11/7/2022 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích L và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Việt K trình bày:

Năm 2004, bà Nguyễn Thị Bích L được UBND huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 11, tờ bản đồ số 11 diện tích 72.696m² và thửa số 990, tờ bản đồ số 12, diện tích 29.812m² tại xã N, huyện A, mục đích sử dụng làm trang trại chăn nuôi (đất cho thuê), thời hạn sử dụng đến năm 2054 (Giấy chứng nhận số 01535 ngày 02/4/2004). Bà L góp vốn quyền sử dụng 02 thửa đất này vào Công ty trách nhiệm hữu hạn X(gọi tắc là Công ty X) do mẹ bà L là bà Bùi Thị Minh V làm giám đốc, đăng ký biến động vốn góp ngày02/10/2009.

Ngày 10/02/2012, ông Lê Văn H và bà Bùi Thị Minh V là đại diện Công ty X ký hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất. Theo đó, Công ty X cho ông Lê Văn H thuê 7.000m² đất thuộc thửa 990, tờ bản đồ số 12 nêu trên; giới cận: Đông giáp đường bê tông và mương thủy lợi; Tây giáp đất còn lại của thửa 990, Nam giáp đất còn lại thửa đất 990, Bắc giáp đất của công ty P1. Thời gian thuê đất đến năm 2054, mục đích thuê lại để chăn nuôi, giá thuê 150.000.000 đồng, phương thức thanh toán 01 lần. Nghĩa vụ của bên thuê đất là phải nộp thuế sử dụng phần đất đã thuê.

Sau khi ký kết hợp đồng thuê lại, bên cho thuê đã bàn giao 7.000m² đất, ông Lê Văn H sử dụng đất thuê đầu tư trang tại chăn nuôi heo nhưng không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng phần đất thuê lại và cũng không trả tiền thuê lại đất cho bên cho thuê. Ngày 22/3/2016, ông Lê Văn H viết giấy nợ tiền thuê đất 150.000.000 đồng, trả 30.000.000 đồng, còn nợ lại 120.000.000 đồng và cam kết đến tháng 9/2016 sẽ thanh toán đủ, nếu quá hạn mà không thực hiện cam kết thì bên cho thuê đất có quyền hủy hợp đồng cho thuê, lấy lại đất.

Ngày 16/01/2018, giữa bà Nguyễn Thị Bích L và đại diện pháp luật Công ty X có văn bản thỏa thuận rút vốn là quyền sử dụng 02 thửa đất đã góp vào Công ty X nêu trên. Ngày 15/3/2018 Văn phòng đăng ký đất đai xóa đăng ký góp vốn vào Công ty X, trong đó có phần đất của ông H đã thuê lại ngày 10/02/2012.

Đến nay, ông Lê Văn H vẫn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng phần đất thuê theo hợp đồng ngày 10/02/2012 và cũng không trả tiền thuê đất như cam kết theo giấy nợ tiền ngày 22/3/2016. Bà L và Công ty X nhiều lần yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê đất nhưng ông H không đồng ý, tiếp tục sử dụng đất đã thuê.

Nay bà L yêu cầu hủy hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất ngày 10/02/2012, buộc ông H trả lại hiện trạng đất đã thuê, thanh toán tiền thuê đất còn nợ 120.000.000 đồng và trả lại tiền thuế sử dụng đất mà bà L đã nộp thay cho ông H.

Bị đơn anh Lê Văn H trình bày: Cuối năm 2011, anh có nhu cầu mua đất làm trang trại chăn nuôi. Qua giới thiệu của ông Phạm Phú T (Giám đốc Công ty CP V1), bà Bùi Thị Minh V đồng ý bán cho anh 01 mảnh đất làm trang trại tại xã N 140.000.000 đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập hợp đồng bằng văn bản. Sau đó, anh biết đất bà V đang sử dụng là đất thuê của nhà nước nên cả hai lập hợp đồng thuê lại đất vào đầu năm 2012, có xác nhận của Ban quản lý khu chăn nuôi tập trung Nhơn T1 và UBND xã N. Nội dụng hợp đồng: Bên cho thuê: Bà Bùi Thị Minh V là giám đốc công ty TNHH X; bên thuê là anh (Lê Văn H); đất thuê lại là một phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01353 ngày 02/4/2004, diện tích 7.000m²; giới cận: Đông giáp đường bê tông có kênh mương nước thủy lợi, T2 và Nam giáp đất của Công ty X, Bắc giáp đất của công ty P1, thời gian sử dụng đất thuê đến năm 2054, mục đích để chăn nuôi. Nghĩa vụ của bên thuê: chịu trách nhiệm đóng thuế đất và sử dụng đúng mục đích, trả tiền thuê lại đất. Khi ký kết hợp đồng, giá thuê thỏa thuận là 140.000.000 đồng. Sau khi ký kết hợp đồng thuê đất, bà Bùi Thị Minh V làm hàng rào trụ lưới B40 ngăn giữa phần đất anh thuê với phần đất còn lại của bà V. Phần đất thuê có 01 phần thửa đất 111, tờ bản đồ số 11 và 01 phần thửa đất 990, tờ bản đồ số 12. Diện tích theo hợp đồng là 7.000m², diện tích thực tế sử dụng khoảng 14.000m². Sau khi thuê, vợ chồng anh đầu tư xây dựng 03 dãy chuồng chăn nuôi heo, kho cám, nhà ở công nhân, hồ chứa nước chất thải, hồ nuôi cá và trồng cây...

Đầu năm 2012, anh đã đặt cọc cho bà Bùi Thị Minh V 30.000.000 đồng, sau khi ký kết hợp đồng đưa thêm 50.000.000 đồng, không viết giấy nhận tiền, không có ai chứng kiến. Bà Bùi Thị Minh V có nhu cầu xây dựng trang trại nên số tiền còn lại 60.000.000 đồng thỏa thuận anh trả tiền mua vật liệu làm trang trại cho bà V 35.000.000 đồng, còn nợ lại 25.000.000 đồng. Giữa năm 2012, bà V đòi số nợ còn lại, anh không có tiền nên bà V cho anh mượn 03 số đồ để cầm cố. Anh mang 03 số đỏ đến vợ chồng bà T3, ông H ở thành phố Q cầm cố được 30.000.000 đồng, về đưa bà V 25.000.000 đồng, trả xong tiền thuê lại đất. Giữa năm 2014, bà V đòi lại 03 số đỏ, anh tìm bà T3 để lấy lại sổ thì bà T3 đã bán nhà đi nơi khác không rõ địa chỉ mới, bà V buộc anh bồi thường 03 sổ đỏ là 100.000.000 đồng. Đầu năm 2016, anh đem 30.000.000 đồng xuống trả nhưng bà V không chịu, buộc anh viết giấy nợ 150.000.000 đồng (giấy nợ ngày 22/3/2016), anh đồng ý viết và giao cho bà V 30.000.000 đồng, còn nợ lại 120.000.000 đồng. Tháng 9 năm 2016, anh gọi bà V trả tiền, bà V nói nếu trả nhiều thì đồng ý giảm số nợ còn 90.000.000 đồng, nên anh trả cho bà V 70.000.000 đồng (đưa tiền cho con gái bà V là Nguyễn Thị Bích P). Đầu năm 2017, anh đưa cho bà V 20.000.000 đồng còn lại. Việc đưa tiền cho bà V và con gái bà V không có giấy tờ gì. Sau khi trả xong nợ anh chưa thu hồi giấy nợ ngày 22/3/2016.

Anh thừa nhận chưa nộp tiền thuế sử dụng phần đất thuê lại, toàn bộ tiền thuế do bà V nộp, vì anh chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thuê.

Năm 2020, bà Nguyễn Thị Bích L muốn chuyển nhượng đất thuê cho người khác, nên đến UBND xã N làm thủ tục nhưng UBND xã biết anh đang sử dụng một phần đất làm trang trại nên không xác nhận. Anh không đồng ý hủy hợp đồng cho thuê đất theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích L và bà Bùi Thị Minh V, vì anh sử dụng đất thuê đúng mục đích và đã đầu tư lớn tài sản trên đất từ năm 2012 đến nay.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Bùi Thị Minh V là người đại diện pháp luật Công ty X trình bày: Thống nhất như lời khai của nguyên đơn và yêu cầu hủy hợp đồng thuê lại đất đã ký kết giữa Công ty TNHH X và ông Lê Văn H. Bà xác định chỉ có nhận của ông Lê Văn H 30.000.000₫ vào sáng ngày 22/3/2016. Ngoài ra, bà không có nhận của ông H khoản tiền nào khác. Yêu cầu hủy hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất ngày 10/02/2012, buộc ông H trả lại cho bà L hiện trạng đất đã thuê, thanh toán cho bà L tiền thuê đất còn nợ và tiền thuế sử dụng đất mà bà L đã nộp thay.
  2. Chị Nguyễn Thị D trình bày: Chị là vợ anh Lê Văn H, thống nhất như lời trình bày và ý kiến của anh Lê Văn H, không đồng ý hủy hợp đồng thuê lại đất.

Bản án dân sự sơ thẩm số:125/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 165, 186, Điều 186, Điều 220, Điều 264, Điều 267, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 107, Điều 108 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều703, Điều 705, Điều 709, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 713 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 424, Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích L và bà Bùi Thị Minh V về việc hủy hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất khu trang trại tập trung xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định đã ký kết ngày 10/02/2012 giữa bà Bùi Thị Minh V và anh Lê Văn H.
  2. Buộc vợ chồng anh Lê Văn H, chị Nguyễn Thị D phải trả cho bà Nguyễn Thị Bích L 10.853,8m² (loại đất trang trại) thuộc thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11 và thửa đất số 990, tờ bản đồ số 12 tại khu trang trại tập trung xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (có sơ đồ trích đo địa chính do công ty cổ phần T4 lập ngày 24/5/2023 kèm theo).
  3. Giao cho chị Nguyễn Thị Bích L được quyền sử dụng các công trình và tài sản gắn liền trên đất có diện tích đất 10.853,8m² được thể hiện chi tiết trích đo địa chính khu đất do Công ty cổ phần T4 lập ngày 24/5/2023.
  4. Buộc chị Nguyễn Thị Bích L phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị các công trình và tài sản gắn liền trên đất cho vợ chồng anh Lê Văn H, Nguyễn Thị D 1.098.301.086đ (một tỷ chín mươi tám triệu ba trăm lẻ một nghìn tám mươi sáu đồng).
  5. Buộc anh Lê Văn H tháo dỡ trần gỗ diện tích 18,4m² ở vị trí (3) và trần alu diện tích 44m² ở vị trí (15) được thể hiện trên trích đo địa chính khu đất do Công ty cổ phần T4 lập ngày 24/5/2023. Đồng thời anh Lê Văn H phải thu hoạch 40 cây keo lá tràm trồng năm 2023 trên diện tích đất đã giao cho chị Nguyễn Thị Bích L.
  6. Buộc vợ chồng anh Lê Văn H, chị Nguyễn Thị D phải có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Bích L tiền thuê lại quyền sử dụng đất 14.950.402đ và tiền nộp thuế đất 53.276.785đ, tổng cộng 68.227.187đ (sáu mươi tám triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn một trăm tám mươi bảy đồng).
  7. Lệ phí đo đạc, thẩm định giá tài sản: Buộc vợ chồng anh Lê Văn H, chị Nguyễn Thị D phải chịu và hoàn trả cho anh Nguyễn Việt K 12.000.000đồng(Mười hai triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/9/2024 anh Lê Văn H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.

Tại giai đoạn phúc thẩm:

Ngày 02/01/2025 anh Lê Văn H nộp chứng thư thẩm định giá số: 133/2024/C1715 ngày 30/12/2024 của Chi nhánh Công ty Cổ phần T5- tại Đà Nẵng, với tổng giá trị công trình trên phần đất anh H đang sử dụng làm trang trại theo Trích đo địa chính khu đất thuộc thửa đất số: 111, tờ bàn đồ 11 và thửa đất số 990, tờ bản đồ số 12, thuộc khu trang trại chăn nuôi tập trung, xã N là 3.958.921.000đồng.

Ngày 17/02/2025 anh Nguyễn Việt K là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích L có đơn yêu cầu định giá lại tài sản.

Theo biên bản định giá tài sản ngày 09/4/2025 tại thửa đất số: 111, tờ bàn đồ 11 và thửa đất số 990, tờ bản đồ số 12; trên phần đất trang trại nuôi heo của anh H, thuộc khu trang trại chăn nuôi tập trung, xã N có tổng giá trị tài sản gắn liền với đất là 3.926.248.072đồng (làm tròn 3.926.248.000đồng), gồm: Cổng sắt lưới B40 có giá 1.060.200 đồng, chòi mái tôn nền xi măng có giá 7.176.000 đồng, kho chứa vôi có giá 19.850.000 đồng, kho chứa cám diện tích 28,5m² có giá14.073.300 đồng, sân xi măng diện tích 25,5 m²giá 1.499.520 đồng, bể nước diện tích 12,4 m² có giá 8.671.320 đồng, bể nước diện tích 8,6 m² có giá 10.023.300 đồng, kho chứa cám diện tích 30,3m² có giá 19.949.520 đồng, sân xi măng diện tích 16,2m² có giá 855.360 đồng, nhà vệ sinh diện tích 8,4m² có giá 12.453.672 đồng, kho chứa đồ diện tích 16,2m² có giá 7.999.560 đồng, mái Fibro xi măng diện tích 15,4m² có giá 3.003.000 đồng, nhà làm việc diện tích 99,6m² có giá 199.837.440 đồng, mái tôn diện tích 50m² có giá 9.750.000 đồng, chuồng heo diện tích 646,1m² có giá 183.750.840 đồng, chuồng heo diện tích 186,6m² có giá 53.069.040 đồng, chuồng heo diện tích 786,9m² có giá 391.640.130 đồng, chuồng heo diện tích 646,1m² có giá 321.563.970 đồng, nhà sát trùng 2,3m² có giá trị 2.271.480 đồng, hồ cá diện tích 3,8m² có giá 1.476.300 đồng, Hố sát trùng diện tích 27,4m² có giá 964.480 đồng, giếng đóng 02 cái có giá 12.600.000 đồng, ao cá thể tích 3.204,93m³ có giá 387.796.530 đồng, hố nước thải 1 thể tích 275,4m³ có giá 33.323.400 đồng, hố nước thải 2 thể tích 4.105,39m³ có giá 496.752.190 đồng, hố nước thải 3 thể tích 12.794,91m³ có giá 1.548.184.110 đồng, nâng nền thể tích 1.747, 27m³ có giá 165.990.650 đồng, 05 cây mít thân cao 1m chưa quả có giá 810.000 đồng, 05 cây mít có quả có gái 1.350.000 đồng, 02 cây xoài chưa quả có giá 362.000 đồng, 07 cây dừa xiêm mới trồng có giá 644.000 đồng, 01 cây bưởi có quả có giá 432.000 đồng, 250 cây keo lá tràm mới trồng có giá 2.750.000 đồng, 266 cây keo lá tràm đường kính gốc < 4cm có giá 2.490.000 đồng, 05 cây keo lá tràm đường kính gốc > 4cm có giá 210.000 đồng, 06 cây lộc vừng có giá 888.000 đồng, 01 cây lộc vừng có đường kính gốc >30cm có giá 726.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Anh Lê Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo và yêu cầu Tòa án cấp phúc sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng thuê lại đất ngày 10/02/2012 của nguyên đơn, với lý do:

  • Bà Nguyễn Thị Bích L không phải là chủ thể của hợp đồng cho thuê lại đất ngày 10/02/2012; bà L làm thủ tục rút vốn góp quyền sử dụng đất không thông báo cho anh biết, nên không có quyền khởi kiện.
  • Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn không lấy lời khai và đưa chị Nguyễn Thị Bích P tham gia tố tụng là vi phạm tố tụng.
  • Giấy nợ tiền viết ngày 22/3/2016 giữa anh và bà Bùi Thị Minh V với số tiền còn nợ 120.000.000 đồng là giao dịch khác không liên quan đến thuê đất trong vụ án này.
  • Ông Nguyễn Việt K không phải là thành viên Công ty TNHH X, bà Nguyễn Thị Bích L, bà Bùi Thị Minh V ủy quyền cho Nguyễn Việt K tham gia tố tụng là vi phạm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến:

Anh Lê Văn H thừa nhận chưa nộp thuế phần đất thuê lại là vi phạm hợp đồng thuê lại đất ngày 10/02/2012; anh H cho rằng đã trả xong tiền thuê đất, nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh là vi phạm cam kết theo giấy nợ tiền ngày 22/3/2016, nên kháng cáo của anh H là không có căn cứ. Do kết quả định giá lại tài sản ngày 09/4/2025 có sự chênh lệch về giá trị các tài sản so với định giá tài sản ngày 17/7/2024. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật TTDS, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của anh H; sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà L thanh toán lại cho anh H giá trị tài sản gắn liền với đất cho thuê lại theo định giá tài sản ngày 09/4/2025; án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Kháng cáo của anh Lê Văn H là trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị D vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.

[2] Xét kháng cáo của anh Lê Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11, diện tích 72.696m² và thửa đất số 990, tờ bản đồ số 12, diện tích 29.812m² tại khu trang trại tập trung xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định được UBND thị xã A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị Bích L ngày 02/4/2004, mục đích sử dụng đất trang trại, đất cho thuê có thời hạn sử dụng đến năm 2054. Ngày 02/10/2009 chị L góp vốn(đã đăng ký biến động)quyền sử dụng 2 thửa đất này vào Công ty TNHH X(Công ty X) do bà Bùi Thị Minh V (mẹ chị L) làm giám đốc đại diện, chị L là thành viên. Ngày 10/02/2012 giữa đại diện Công ty X và anh Lê Văn H xác lập hợp đồng thuê lại một phần đất bà L đã góp vốn vào Công ty X nên trên, với nội dung: Anh H thuê lại 7.000m², thời hạn thuê đến năm 2054, mục đích sử dụng làm trang trại chăn nuôi; bên thuê có nghĩa vụ đóng thuế nhà nước trên phần đất thuê. Hợp đồng được Ban quản lý khu chăn nuôi tập trung xã N xác nhận ngày 25/02/2016 và UBND xã N xác nhận ngày 10/3/2016.

Ngày 16/01/2018 giữa chị Nguyễn Thị Bích L và đại diện pháp luật Công ty X có văn bản thỏa thuận rút vốn quyền sử dụng 2 thửa đất trên được công chứng tại Phòng C tỉnh Bình Định. Ngày 15/3/2018 đăng ký biến động xóa nội dung góp vốn ngày 02/10/2009.

[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi ký hợp đồng, anh Lê Văn H đã nhận quản lý, xây dựng trang trại chăn nuôi heo trên đất thuê cho đến nay, nhưng không nộp thuế phần đất thuê là vi phạm hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất ngày 10/02/2012. Anh H cho rằng đã trả xong tiền thuê đất, nhưng không được bà V, chị L thừa nhận, cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh là vi phạm cam kết trả tiền thuê đất theo giấy nợ tiền ngày 22/3/2016. Còn việc anh H cho rằng không biết chị L rút vốn góp quyền sử dụng đất, nhưng lại biết chị L chuyển nhượng đất thuê là mâu thuẫn với chính mình. Cho nên, chị L có quyền khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất ngày 10/02/2012.

[2.3] Tại giấy nợ tiền ngày 22/3/2016, thể hiện: nội dung thuê đất với số tiền là 150.000.000 đồng, đã trả 30.000.000 đồng, còn lại 120.000.000 đồng, sẽ trả vào tháng 9/2016, đúng hẹn mà không trả đủ thì chị V có quyền lấy tài sản trên đất và đất đã thuê. Anh H thừa nhận giấy này do anh viết ký nhưng cho rằng nợ tiền bà V giao dịch khác, không liên quan việc thuê đất là không đúng với nội dung tại giấy nợ tiền nêu trên.

[2.4] Quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai và đưa chị Nguyễn Thị Bích P tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng là đúng tư cách người tham gia tố tụng. Nên, anh H cho rằng không lấy lời khai và đưa chị P tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không có căn cứ.

[2.5] Quyền lợi của nguyên đơn chị L và quyền lợi của Công ty X không xung đột nhau. Cho nên, việc anh Nguyễn Việt K là đại diện ủy quyền của nguyên đơn và cũng là đại diện ủy quyền của Công ty X là không vi phạm pháp luật.

Cho nên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích L, hủy hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất ngày 10/02/2012. Buộc vợ chồng anh H, chị D phải trả cho chị L 10.853,8m² đất thuê; trả cho chị L tiền thuê đất còn nợ 14.950.402đ và tiền thuế đất chị L đã nộp thay là 53.276.785đ, tổng cộng 68.227.187đồng; đồng thời buộc chị L thanh toán lại cho anh H chị D giá trị công trình, tài sản đã đầu tư gắn liền với đất thuê 1.098.301.086 đồng là đảm bảo quyền lợi các bên, phù hợp quy định tại Điều 707, Điều 709 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Tuy nhiên, thời điểm định giá lại tài sản tại cấp phúc thẩm có sự chênh lệch về giá trị, so với định giá tài sản ngày 17/7/2024. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của anh Lê Văn H; sửa bản án sơ thẩm cho phù hợp với giá trị định giá lại tài sản ngày 09/4/2025.

[3] Lệ phí đo đạc, thẩm định giá tài sản: Tổng cộng chi phí đo đạc, thẩm định giá tài sản là 29.000.000đồng, anh Nguyễn Việt K đã nộp tạm ứng và đã chi xong. Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng của chị L, đồng thời buộc chị L thanh toán lại cho anh H chị D giá trị tài sản trên đất thuê đã đầu tư xây dựng. Cho nên, vợ chồng anh Lê Văn H chị Nguyễn Thị D phải chịu 12.000.000 đồng để hoàn trả lại cho anh Nguyễn Việt K là phù hợp quy định tại Điều 156 Bộ luật TTDS

[4] Án phí:

[4.1] Án phí dân sự sơ thẩm:

Do chênh lệch giá trị tài sản trên đất thuê, nên sửa phần án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp với định giá lại tài sản.

Anh Lê Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch và 3.411.000 đồng án phí có giá ngạch, tổng công 3.711.000đ quy định tại Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Chị Nguyễn Thị Bích L phải chịu án phí 110.525.000đồng được khấu trừ vào tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Bích L đã nộp 3.300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005301 ngày 29/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, chị L còn phải nộp107.225.000đồng quy định tại Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[4.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên bị đơn anh Lê Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp quy định tại Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[5] Chi phí thẩm định giá, định giá tài sản tại cấp phúc thẩm: Anh H có nộp chứng thư thẩm định giá, nhưng không có hợp đồng, phiếu thu thẩm định. Anh Nguyễn Việt K yêu cầu định giá lại và nộp tạm ứng là 5.000.000 đồng và đã chi xong. Giá theo chứng thư thẩm định và giá của Hội đồng định giá tài sản là tương đương nhau, anh H, bà L mỗi người phải chịu ½ chi phí là 2.500.000 đồng. Nên anh Lê Văn H có nghĩa vụ hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị Bích L 2.500.000 đồng.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bình Định tại phiên tòa làphù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 107, Điều 108 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 703, Điều 705, Điều 709, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 713 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 424, Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn anh Lê Văn H; sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 125/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích L; hủy “Hợp đồng thuê lại đất khu trang trại chăn nuôi tập trung N-A-Bình Định” ngày 10/02/2012 giữa bà Bùi Thị Minh V và anh Lê Văn H.
  2. Buộc anh Lê Văn H và chị Nguyễn Thị D có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Bích L 10.853,8m² đất (loại đất trang trại) thuộc thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11 và thửa đất số 990, tờ bản đồ số 12 tại khu trang trại tập trung xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định(có sơ đồ trích đo địa chính do Công ty cổ phần T4 lập ngày 24/5/2023 kèm theo).
  3. Giao cho chị Nguyễn Thị Bích L được quyền sử dụng các công trình và tài sản gắn liền trên đất có diện tích đất 10.853,8m² được thể hiện chi tiết theo trích đo địa chính khu đất do Công ty cổ phần T4 lập ngày 24/5/2023.
  4. Buộc chị Nguyễn Thị Bích L phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị các công trình và tài sản gắn liền trên đất cho anh Lê Văn H và chị Nguyễn Thị D là 3.926.248.000đồng(Ba tỷ chín trăm hai mươi sáu triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng)
  5. Buộc anh Lê Văn H và chị Nguyễn Thị D phải có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Bích L tiền thuê lại quyền sử dụng đất còn nợ là14.950.402 đồng và tiền thuế đất chị L đã nộp thay là 53.276.785 đồng, tổng cộng 68.227.187 đồng (sáu mươi tám triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn một trăm tám mươi bảy đồng).
  6. Chi phí đo đạc, thẩm định giá tài sản tại cấp sơ thẩm: Chi phí đo đạc, thẩm định giá tài sản là 29.000.000 đồng, anh Nguyễn Việt K đã nộp tạm ứng và đã chi xong. Chị Nguyễn Thị Bích L phải chịu 17.000.000 đồng; anh Lê Văn H và chị Nguyễn Thị D phải chịu 12.000.000 đồng, nên anh H chị D có nghĩa vụ hoàn trả lại cho anh Nguyễn Việt K 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).
  7. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • Buộc vợ chồng anh Lê Văn H, chị Nguyễn Thị D phải chịu 3.711.000₫(ba triệu bảy trăm mười một nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
      • Chị Nguyễn Thị Bích L phải chịu 110.525.000đồng, được trừ vào tạm ứng án phí chị L đã nộp 3.300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005301 ngày 29/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, nên chị L còn phải 107.225.000đồng(Một trăm lẻ bảy triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
    2. Án phí dân sự phúc thẩm:

      Anh Lê Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai số: 0005565 ngày 23/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.

  8. Chi phí thẩm định giá, định giá tài sản tại cấp phúc thẩm: Anh Nguyễn Việt K nộp tạm ứng 5.000.000 đồng và đã chi xong, anh H, chị L mỗi người phải chịu ½ chi phí là 2.500.000 đồng. Nên anh Lê Văn H có nghĩa vụ hoàn trả lại cho anh Nguyễn Việt K 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
  9. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  10. Quyền, nghĩa vụ thi thành án:

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

-TAND Tối cao;

-VKSND tỉnh Bình Định;

-Các đương sự;

-TAND thị xã An Nhơn;

-Chi cục THADS thị xã An Nhơn;

-Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/DS-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 103/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger