Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 103/2025/DS-PT

Ngày: 26/03/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi ”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Các Thẩm Phán:Bà Nguyễn Thị Quyên
Ông Nguyễn Đình Trung

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 446/2024/TLPT- DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXX - PT ngày 06/02/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 141/2025/QĐ-PT ngày 28/02/2025. giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1975.

    Địa chỉ: Tổ C, khu C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  • - Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm: 1976.

    Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Lâm Ngọc T1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Theo Văn bản ủy quyền ngày 19/6/2024).

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Huỳnh T2, sinh năm: 1996.

    Địa chỉ: Tổ C, Khu C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  2. Ông Hứa H1, sinh năm 1969.

    Địa chỉ: Tổ A, KP L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  3. Bà Nguyễn Thị Bảo T3, sinh năm 1978 (tên gọi khác: T3 rau).

    Địa chỉ: Khu C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  4. Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1958 (tên gọi khác: Tư Hiếu).

    Địa chỉ: Tổ C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  5. Bà Phạm Thị Bạch T4, sinh năm 1974 (tên gọi khác: Út H2).

    Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  6. Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1985 (tên gọi khác: T5).

    Địa chỉ: C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  7. Bà Võ Thị H4, sinh năm 1986 (tên gọi khác: Em H4).

    Địa chỉ: Tổ C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  8. Bà Trần Thu P, sinh năm 1963 (tên gọi khác: Chị B).

    Địa chỉ: Khu C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  9. Bà Trần Thu P, sinh năm 1963 (tên gọi khác: Chị B).

    Địa chỉ: Khu C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T, ông T1 có mặt, các người làm chứng vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai giải quyết vụ án và tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:

Bà và bà Phạm Thị H là bạn quen biết làm ăn từ lâu. Ở địa phương bà bắt đầu làm chủ hụi từ khoảng năm 2005 đến nay. Bà H có tham gia chơi 04 dây hụi do bà làm chủ hụi, trong đó có 02 dây hụi hiện đã hết hụi, khui vào ngày 20 và đóng hụi từ ngày 25-27 hàng tháng còn lại 02 dây bà H đã bắt nhưng còn nợ hụi chưa trả, thời gia chơi hụi là tháng 02 năm 2023, cụ thể:

- Dây thứ nhất: Bắt đầu khui hụi cuối tháng 02/2023, giao tiền hụi là ngày 05/3/2023, 1 dây có 16 phần nhưng 12 người chơi, lý do là có người chơi 02 phần, bao gồm:Trần Thu P (bà B) - số 1; Phạm Thị Bạch T4 (Ú) - số 2 - 3; Phạm Ngọc H5 (Hưng xe) - số 4; Nguyễn Thị H6 (bà N tạp hóa) - số 5; Võ Thị H4 (em H) - số 6 - 7; Trần Thị T (chủ hụi - số 8 - 9); Nguyễn Thị H3 (T) - số 10; Trần Thị D - số 11, 13; Lê Thị Thu V (bé N1) - số 12; Phạm Thị H (Hòa phòng) - số 14; Nguyễn Thị Bảo T3 (Chinh rau)- số 15; Nguyễn Thị Ngọc A (T) - số A. Dây hụi này bà H chơi 01 phần là 5.000.000đồng, thể hiện ở số thứ tự 14 “Hoà Phòng”.

- Dây thứ hai: Bắt đầu khui hụi cuối tháng 02/2023, giao tiền hụi là ngày 05/3/2023, 1 dây có 16 phần nhưng 12 người chơi, lý do là có người chơi 02 phần, bao gồm: Trần Thị T, (chủ hụi – số 1 - 2); Phạm Thị Bạch T4 (Ú) - số 3 – 4; Phạm Ngọc H5 (Hưng xe) - số 5; Nguyễn Thị H6 (bà N tạp hóa) - số 6; Phạm Thị H (Hòa phòng) - số 7; Trần Thị T - chủ hụi; Lê Thị Thu V (bé N1) - số 9; Nguyễn Thị H3 (T) - số A; Nguyễn Thị C (Tư Định) - số A; Nguyễn Thị Ngọc A (T) - số A; T (M) - số 13; Võ Thị H4 (em Hiền T6) - số 14; Trần Thị D - số 15; Huỳnh Thị Minh P1 (bà B1) - số 16. Dây hụi này bà H chơi 01 phần là 5.000.000đồng, thể hiện ở số thứ tự 7 “Hoà Phòng”.

Hình thức chơi hụi: 1 phần (chân) hụi là 5.000.000đ (Năm triệu đồng), ngày khui hụi là 27 hàng tháng, ngày đóng hụi là kể từ ngày 27 đến ngày 05 đến ngày 08 tháng sau, ai đóng bẻo (hốt hụi) cao hơn thì sẽ được bắt hụi. Chủ hụi có trách nhiệm tổ chức khui hụi, xác định người bắt hụi và thu tiền hụi của các thành viên tham gia chơi hụi và giao lại cho người hốt hụi. Mỗi một dây hụi, bà có đưa cho người chơi một tờ giấy phô tô có ghi tên những người cùng tham gia chơi hụi. Tuy nhiên, vì quen biết nhau nên trong tờ danh sách hụi này bà chỉ ghi tên thường gọi của họ ở địa phương. Do bà làm chủ hụi của rất nhiều dây hụi và có nhiều người tham gia nên người chơi hụi không gặp và biết mặt hết những người cùng chơi hụi trong cùng 01 dây hụi, mà họ chỉ biết và gặp được một vài người khi cùng nhau bỏ hụi.

Cách thức đóng hụi: Bà T trực tiếp thu tiền hụi hoặc người chơi hụi có thể chuyển vào tài khoản bà mượn của anh Trần Huỳnh T2 theo số tài khoản 1026445740 (Ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh D1) và ông Hứa H1 theo số tài khoản 5915888485888 (Ngân hàng N3 - chi nhánh T9).

Đối với cả hai dây hụi bà H1 có tham gia, tại thời điểm bà H1 bắt cả 02 dây hụi đều có mặt bà Phạm Thị Bạch T4, bà Nguyễn Thị Bảo T3, bà Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị Ngọc A. Trong 2 lần bỏ hụi do bà H1 bỏ bẽo (bỏ ăn hụi) cao hơn nên được hốt hụi. Quá trình bà H1 chơi hụi của 02 dây sau cụ thể như sau:

Dây 1: Bà H1 tham gia 01 phần hụi, thể hiện tên ở số thứ tự thứ 14 “Hoà Phòng”, Dây 2: Bà H1 tham gia 01 phần hụi, thể hiện tên ở số thứ tự thứ 7 “Hoà Phòng”. Cả 02 dây hụi này bà H1 đều đóng hụi được 04 phần hụi sống, đến tháng 6 năm 2023 bà H1 ăn hụi cả hai dây, bà H1 khui (bỏ) hụi cả 02 dây hụi 1 phần là 900.000 đồng nên mỗi phần hụi bà H1 được nhận 4.100.000đồng/1 phần/1 dây. 01 dây hụi có 04 phần hụi sống và 11 phần hụi bắt (trong 12 phần trừ đi 01 phần của bà H1, còn lại 11 phần). Cụ thể 2 dây: (11 phần x 4.100.000đồng) x 2 = 90.200.000đồng. Ngày 05/8/2023, bà T giao cho bà H1 tổng số tiền 130.200.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu hai trăm nghìn đồng). Trong đó, tiền hụi 02 dây trước bà còn nợ bà H1 là 40.000.000đồng, tiền khui 02 dây hụi sau là 90.200.000đồng. Hình thức bà H1 đóng hụi cho bà T là đưa trực tiếp và chuyển khoản, cụ thể:

1. Tài khoản của ông Trần Huỳnh T2 theo số tài khoản 1026445740 (Ngân hàng TMCP N2- chi nhánh D1), cụ thể các khoản:

  • Ngày 07/3/2023 số tiền chuyển khoản là 20.000.000đồng;
  • Ngày 27/3/2023 số tiền chuyển khoản là 8.200.000đồng;
  • Ngày 26/4/2023 số tiền chuyển khoản là 9.200.000đồng;
  • Ngày 24/5/2023 số tiền chuyển khoản là 8.400.000đồng;
  • Ngày 25/6/2023 số tiền chuyển khoản là 9.300.000đồng;

Kể từ tháng 3 năm 2023 đến nay, tổng số tiền bà nhận theo tài khoản này là: 50.100.000đồng trong đó 10 triệu tiền nợ hụi bà H1 còn nợ dây hụi trước, số tiền chuyển khoản không giống nhau là do phụ thuộc vào số tiền người bắt bẻo. Thời gian trước bà H1 cũng chuyển khoản nhưng để đóng hụi cho 02 dây hụi hiện đã thanh toán xong nên bà không kê khai và không yêu cầu tòa án giải quyết. Trong số tiền 151.900.000 đồng, bà H1 chuyển khoản do ông T1 nộp tại sao kê tại phiên tòa có cả số tiền của cả 02 dây hụi cũ khui vào ngày 20 và đóng hụi từ ngày 25-27 hàng tháng hiện hai bên đã thanh toán hết. Bà chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với số tiền bà H1 bắt đầu chuyển khoản từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay.

2. Tài khoản của ông Hứa H1 (bà mượn) theo số tài khoản 5915888485888 (Ngân hàng N3 - chi nhánh T9), cụ thể các khoản:

  • Ngày 05/4/2023 số tiền chuyển khoản là 8.300.000đồng;
  • Ngày 14/6/2023 số tiền chuyển khoản là 8.400.000đồng;

K từ tháng 4 năm 2023 đến nay, tổng số tiền bà nhận theo tài khoản này là: 16.700.000đồng.

Như vậy tổng cả 2 tài khoản bà nhận của bà H1 là 56.800.000đồng/02 dây hụi. Ngoài ra bà H1 có khi còn đóng hụi trực tiếp cho bà T, hai bên không lập sổ giao nhận hụi

Kể từ thời điểm bà H1 bắt hụi là tháng 6/2023 thì bà H1 phải đóng hụi chết 5.000.000đồng/1 phần. Cụ thể 12 phần x 5.000.000 = 60.000.000đồng. Cả hai dây bà H1 phải đóng cho bà T là 120.000.000đồng. Tuy nhiên, sau khi bắt hụi bà H1 chỉ đóng được vài tháng rồi không tiếp tục đóng hụi nữa. Hiện mỗi dây hụi bà H1 còn nợ bà T số tiền 30.000.000đồng. Tổng cộng cả hai dây bà H1 còn nợ số tiền 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng).

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, do bà H1 không thừa nhận có chơi hụi do bà làm chủ hụi nên bà đã cung cấp những người làm chứng để chứng minh việc làm chủ hụi, thu tiền hụi của những người tham gia chơi hụi trong đó có cả bà H1. Bà không yêu cầu bà H1 trả lãi vì tại thời điểm chơi hụi bà và các thành viên chơi hụi không thoả thuận trả lãi. Nay bà khởi kiện yêu cầu bà H1 phải trả cho bà số tiền nợ hụi là 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng), bà không yêu cầu bà H1 trả lãi.

Bà T không yêu cầu chồng của bà H1 là ông Thái Ngọc T7 tên thường gọi là Phòng phải có trách nhiệm trả nợ hụi cho bà vì tại thời điểm chơi hụi ông P2 không có mặt và không tham gia .

Ngoài các ý kiến và yêu cầu đã trình bày ở phần trên thì bà không còn ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai ngày 05/5/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có ông Lâm Ngọc T1 trình bày:

Bà H1 xác định không chơi hụi do bà T làm chủ hụi như bà T khởi kiện và những người làm chứng trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và đối chất.

Bà H1 thừa nhận có vay tiền của bà T nhiều lần, số tiền vay cụ thể dao động từ vài triệu đến 30.000.000 đồng. Hình thức vay tiền lúc cần thì bà H1 đến nhà bà T vay, khi đến vay tiền các bên không lập giấy vay tiền nhưng khi trả tiền thì bà H1 lại chuyển trả vào tài khoản của con trai bà T là ông Trần Huỳnh T2 số tài khoản 1026445740 - Ngân hàng TMCP N2 cụ thể:

  • Ngày 07/3/2023 số tiền chuyển khoản là 20.000.000đồng;
  • Ngày 27/3/2023 số tiền chuyển khoản là 8.200.000đồng;
  • Ngày 26/4/2023 số tiền chuyển khoản là 9.200.000đồng;
  • Ngày 24/5/2023 số tiền chuyển khoản là 8.400.000đồng;
  • Ngày 25/6/2023 số tiền chuyển khoản là 9.300.000đồng;

Tổng cộng bà H1 có vay của bà T là: 55.100.000 đồng (Năm mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng) và trong tất cả các lần chuyển khoản trả nợ cho bà T, bà H1 đều không ghi rõ nội dung chuyển khoản). Hiện bà H1 đã trả nợ đầy đủ cho bà T nên bà H1 xác định không còn nợ bà T nữa. Đối với các khoản vay này các bên không có thỏa thuận trả lãi nhưng lâu lâu có gửi ít tiền cà phê để cảm ơn bà T nhưng không đáng kể chỉ khoảng vài trăm, số tiền cụ thể thì bà không nhớ rõ nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đối với tài khoản của ông Hứa H1 thì bà không nhớ chính xác có chuyển khoản hay không nên bà không cung cấp lời khai cho Tòa án.

Tại phiên tòa ông T1 cung cấp thêm bản sao kê của ông T2 từ tháng 01/2023 đến nay với tổng số tiền bà H1 chuyển khoản là 151.900.000 đồng để chứng minh cho lời trình bày của bà H1 về các khoản vay là đúng và lời trình bày của bà T là sai vì không đúng số tiền chơi hụi.

Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà H1 phải trả tiền nợ hụi 60.000.000 đồng thì bà H1 không đồng ý trả vì bà không chơi bất kỳ dây hụi nào do bà T làm chủ hụi.

* Theo bản tự khai và lời trình bày người làm chứng là ông Trần Huỳnh T2 trình bày:

Ông là chủ tài khoản số 1026445740, đăng ký tại Ngân hàng TMCP N2. Trong quá trình sử dụng tài khoản ông có cho mẹ ông là bà Trần Thị Thu M để cho những người chơi hụi trả tiền nợ hụi hàng tháng, nội dung chuyển khoản có người ghi nội dung chuyển trả hụi cũng có người không ghi. Trong những người chuyển khoản cho ông thì có bà H1, sau khi nhận chuyển khoản số tiền này ông đã rút ra và giao lại cho bà T đầy đủ. Đối với số tiền này ông không yêu cầu tòa án giải quyết.

* Theo bản tự khai người làm chứng là ông Hứa H1 trình bày:

Ông là chủ tài khoản số 5915888485888 có tên Hứa H1, đăng ký tại Ngân hàng N3 – chi nhánh T9. Trong quá trình sử dụng tài khoản ông có cho bà Trần Thị T là hàng xóm đồng thời là chủ hụi mượn để cho những người cùng chơi hụi trả nợ hụi cho bà T, trong những người chuyển khoản cho ông có bà H1 chuyển khoản có ghi nội dung là “H1 chuyển hụi”. Ngoài bà H1, ông có nhận chuyển khoản của bà C1, bà H3. Sau khi nhận chuyển khoản ông đã giao lại số tiền hụi cho bà T. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với số tiền này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, 91, 93, 94, 95; Điều 147; Điều 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 2, 5, 6, 8, 7, 9, 17, 24 Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

[1] Tuyên xử:

[1.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Trần Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” đối với bà Phạm Thị H.

[1.2] Buộc bà Phạm Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị T số tiền nợ hụi là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

[1.3] Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 25/9/2024, bị đơn bà Phạm Thị H kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định.

* Tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo:

Căn cứ khoản 1 Điều 273 BLTTDS năm 2015 thì kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị H trong thời hạn luật định, đương sự đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

* Quan điểm của KSV đối với nội dung kháng cáo:

Theo lời khai của nguyên đơn bà T thì bà H có tham gia chơi 04 dây hụi do bà T làm chủ hụi, trong đó có 02 dây hụi hiện đã hết hụi, còn lại 02 dây bà H đã bắt hụi nhưng còn nợ hụi chưa trả tổng 60.000.000 đồng. 02 dây hụi có cùng thời điểm mở hụi là cuối tháng 02/2023, trả tiền hụi từ thời điểm khui đến ngày 08/3/2023, mỗi dây hụi đều có 16 phần nhưng chỉ có 12 người tham gia, 1 phần hụi là 5.000.000 đồng. Ở dây thứ nhất bà H chơi ở số thứ tự 14, ở dây hụi thứ 2 bà H ở số thứ tự 7, cả 2 dây đều có tên “Hòa P2".

Hình thức chơi hụi: 1 phần (chân) hụi là 5.000.000đ (Năm triệu đồng), ai đóng bẻo (hốt hụi) cao hơn thì sẽ được bắt hụi. Chủ hụi có trách nhiệm tổ chức khui hụi, xác định người bắt hụi và thu tiền hụi của các thành viên tham gia chơi hụi và giao lại cho người hốt hụi. Mỗi một dây hụi, bà có đưa cho người chơi một tờ giấy pho to có ghi tên những người cùng tham gia chơi hụi. Tuy nhiên, vì quen biết nhau nên trong tờ danh sách hụi này bà chỉ ghi tên thường gọi của họ ở địa phương. Do bà T làm chủ hụi của rất nhiều dây hụi và có nhiều người tham gia nên người chơi hụi không gặp và biết mặt hết những người cùng chơi hụi trong cùng 01 dây hụi, mà họ chỉ biết và gặp được một vài người khi cùng nhau bỏ hụi. Người chơi hụi có thể đóng tiền hụi trực tiếp cho bà hoặc chuyển khoản vào tài khoản của con trai bà là ông Trần Đình T8 hoặc mượn tài khoản của ông Hứa H1.

Kể từ thời điểm bà H1 bắt hụi là tháng 6/2023 thì bà H1 phải đóng hụi chết 5.000.000đồng/1 phần. Cụ thể 12 phần x 5.000.000 = 60.000.000đồng. Cả hai dây bà H1 phải đóng cho bà T là 120.000.000đồng. Tuy nhiên, sau khi bắt hụi bà H1 chỉ đóng được vài tháng rồi không tiếp tục đóng hụi nữa. Hiện mỗi dây hụi bà H1 còn nợ bà T số tiền 30.000.000đồng. Tổng cộng cả hai dây bà H1 còn nợ số tiền 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng).

Để chứng minh cho yêu cầu của mình bà T đã cung cấp bản sao kê Tài khoản của ông Trần Huỳnh T2 theo số tài khoản 1026445740 (Ngân hàng TMCP N2- chi nhánh D1), tài khoản của ông Hứa H1 theo số tài khoản 5915888485888 (Ngân hàng N3 - chi nhánh T9) và bản gốc sổ hụi trong đó có danh sách người chơi phù hợp với tờ giấy pho to có ghi tên các thành viên tham gia hụi mà người làm chứng đã cung cấp.

Bà H1 xác nhận có chuyển khoản vào số tài khoản của con trai bà T nhưng đó là các khoản vay bà mượn của bà T và bà H1 không chơi hụi. Bà H1 khai như vậy nhưng bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh mình đã vay tiền của bà T và bà T cũng không thừa nhận có cho bà H1 vay tiền. Qua xác minh tại địa phương thì tên “Hòa P2" là tên gọi của bà Phạm Thị H và chồng của bà H là ông Thái Ngọc T7 tên thường gọi là Phòng điều này cũng phù hợp với lời khai của những người làm chứng, do đó bà H cho rằng bà không tham gia chơi hụi là không có căn cứ. Bà H chơi hụi nhưng không thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của người chơi hụi trong các dây hụi do đó Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà H phải trả cho bà Trần Thị T số tiền nợ hụi 60.000.000 đồng là có căn cứ. Bà H kháng cáo và có cung cấp bản phô tô sao kê ngân hàng N3 thể hiện bà có chuyển khoản vào tài khoản của ông Trần Huỳnh T2 trong năm 2023, tuy nhiên đối với khoản tiền này bà T cho rằng đây là số tiền hụi bà H chuyển khoản cả 4 dây hụi nên mới nhiều vậy. Bà H cho rằng đây là tiền nợ vay bà H chuyển trả cho bà T nhưng tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng không biết được bà H vay của bà T bao nhiêu tiền, vay chính xác thời điểm nào, trong khi ở cấp sơ thẩm bà H khai vay tổng cộng của bà T chỉ có 55.100.000đ. Do đó lời khai nại của bà H là không có căn cứ.

Từ những phân tích trên đề nghị: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị H, áp dụng khoản 1, Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị H làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo của bà Phạm Thị H. Bà H đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà H xác định không chơi hụi do bà T làm chủ hụi như bà T khởi kiện và những người làm chứng trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và đối chất.

[3] Bà H khai có vay tiền của bà T nhiều lần, số tiền vay cụ thể dao động từ vài triệu đến 30.000.000 đồng. Hình thức vay tiền lúc cần thì bà H đến nhà bà T vay, khi đến vay tiền các bên không lập giấy vay tiền nhưng khi trả tiền thì bà H lại chuyển trả vào tài khoản của con trai bà T là ông Trần Huỳnh T2 số tài khoản 1026445740 - Ngân hàng TMCP N2 cụ thể: Ngày 07/3/2023 số tiền chuyển khoản là 20.000.000đồng; Ngày 27/3/2023 số tiền chuyển khoản là 8.200.000đồng; Ngày 26/4/2023 số tiền chuyển khoản là 9.200.000đồng; Ngày 24/5/2023 số tiền chuyển khoản là 8.400.000đồng và ngày 25/6/2023 số tiền chuyển khoản là 9.300.000đồng. Tổng cộng bà H có vay của bà T là: 55.100.000 đồng (Năm mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng) và trong tất cả các lần chuyển khoản trả nợ cho bà T, bà H đều không ghi rõ nội dung chuyển khoản). Hiện bà H đã trả nợ đầy đủ cho bà T nên bà H xác định không còn nợ bà T nữa. Đối với các khoản vay này các bên không có thỏa thuận trả lãi nhưng lâu lâu có gửi ít tiền cà phê để cảm ơn bà T nhưng không đáng kể chỉ khoảng vài trăm, số tiền cụ thể thì bà không nhớ rõ nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

[4] Quá trình giải quyết vụ án bà H xác định không có chơi hụi của bà T. Tuy nhiên, tại sao kê tài khoản của ông Hứa H1 do Ngân hàng N4 - Chi nhánh huyện T9 cung cấp thể hiện: Bà H1 có chuyển tiền hụi cho bà T thông qua tài khoản của ông Hứa H1. Xét thấy, lời khai của nguyên đơn bà T và các người làm chứng khai có cơ sở xác định bà Trần Thị T có làm chủ hụi đối với các dây hụi gồm, dây số 1 và dây số 2, 01 phần hụi là 5.000.000đồng. Cả 2 dây hụi đều bắt đầu khui hụi từ cuối tháng 02/2203 và thu hụi từ ngày khui hụi đến ngày 08/3/2023, mỗi dây hụi có 12 người tham gia (tổng 16 phần), trong đó có bị đơn là bà Phạm Thị H là thành viên ở các vị trí số 7 và 14. Các dây hụi này phù hợp với quy định của pháp luật, quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 5, 6, 7, 8, 9, 17 và Điều 24 Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

[5] Bà H cho rằng có chuyển khoản vào số tài khoản của con trai bà T là anh Trần Huỳnh T2 nhưng đó là các khoản vay bà H vay của bà T. Tuy nhiên, bà T không thừa nhận có cho bà H vay tiền mà số tiền bà H chuyển khoản là chuyển tiền hụi, bà H không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền chuyển khoản là tiền vay của bà T. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Lâm Ngọc T1 khai bà H vay của bà T bao nhiêu tiền, vay chính xác thời điểm nào thì không nắm được, trong khi ở cấp sơ thẩm bị đơn khai vay tổng cộng của bà T là 55.100.000đ. Do đó, lời khai nại của phía bị đơn bà H là không có cơ sở.

Ngoài ra, ông Lâm Ngọc T1 đại diện theo uỷ quyền của bị đơn cho rằng chồng bà Phạm Thị H là ông Thái Ngọc T7 chứ không phải tên P2 nên bà T ghi “Hoà Phòng” tham gia chơi hụi là không phải của bà H. Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả xác minh ngày 06/8/2024 tại địa phương cung cấp: Chồng bà H là ông Thái Ngọc T7 tên thường gọi là “Phòng” nên nguyên đơn bà T ghi bà H chơi hụi là “Hoà Phòng” là phù hợp tên thường gọi của bà H và ông T7.

Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T là có căn cứ, vì vậy, nội dung kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị H là không có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn bà T.

Bị đơn bà Phạm Thị H phải chịu 3.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

[7] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Áp dụng Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 2, 5, 6, 8, 7, 9, 17, 24 Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Trần Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” đối với bà Phạm Thị H.

Buộc bà Phạm Thị H phải có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị T số tiền nợ hụi là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền nêu trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

  • - Bà Phạm Thị H phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm
  • - Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008144 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. (Bà H đã nộp xong án phí phúc thẩm).
  • - Bà Trần Thị T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0007861 ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Thống Nhất;
  • - Chi cục THADS huyện Thống Nhất;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 103/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger