TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TP. HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/HSST. Ngày: 15/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Huy Trọng và ông Lưu Bá Ngọc
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Anh Bích - Thư ký Toà án nhân dân huyện T.
- -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại: Trụ sở Toà án nhân dân huyện T - TP . xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 89/2024/HSST, ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên Toà số: 35/2024/HPT-QĐ ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, Tp Hà Nội đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Đức L; Tên gọi khác: không; (Giới tính: Nam) sinh năm 1978; Nơi ĐKHK: thôn L, xã P, huyện T, Thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Bố đẻ: Phạm Văn T; Mẹ đẻ: Trần Thị T1; Gia đình có 07 anh, chị em, bị cáo là con thứ 05; Có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; có 02 con, con lớn sinh năm 2002; con nhỏ sinh năm 2006: D chỉ bản số: 310/2024 do công an huyện T lập ngày 17/7/2024;
Nhân thân, Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/7/2024 đến nay. Có mặt tại phiên Toà theo lệnh trích xuất của Toà án.
- Họ và tên: Nguyễn Tiến L1; Tên gọi khác: không; (Giới tính: Nam) sinh năm 1989; Nơi ĐKHK: Thôn B, xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Tiến M; Mẹ đẻ: Bùi Thị Y; Gia đình có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ 03; Có vợ là Đào Thị N, sinh năm 1993; có 04 con, con lớn sinh năm 2013; con nhỏ sinh năm 2024: D chỉ bản số: 309/2024 do công an huyện T lập ngày 17/7/2024;
Nhân thân, Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/7/2024 đến nay. Có mặt tại phiên Toà theo lệnh trích xuất của Toà án.
- Người bị hại: Anh Mai Xuân N1, sinh năm 1976;
Trú tại: Thôn L, xã P, huyện T, Hà Nội; (có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích cho anh Mai Xuân N1: Ông Tạ Đức T2, sinh năm 1962; Ông Nông Minh C, sinh năm 1996- Thuộc Công ty L3. (ông T2 vắng mặt; ông C có mặt)
- -Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đức L: Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1985; Bà Đặng Thị Văn T3, sinh năm 1982 - Thuộc Văn phòng L4; (ông H1, bà T3 có mặt)
- -Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến L1: Bà Nguyễn Thị Bích H2, sinh năm 1979; Ông Nguyễn Duy N2, sinh năm 1963-Thuộc Công ty L5; (có mặt)
- Người làm chứng:
- Chị Phạm Thị Minh H3, sinh năm 1976; (có mặt)
- Anh Mai Xuân B, sinh năm 1977; (có mặt)
- Anh Mai Văn K, sinh năm 1975; (có mặt)
- Anh Mai Thế V, sinh năm 1980; (có mặt)
- Anh Mai Đức C1, sinh năm 1987; (có mặt)
- Đều trú tại: Thôn L, xã P, huyện T, Hà Nội
- Anh nguyễn Đình K1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Trú tại: Thôn B, xã C, huyện T, Hà Nội;
- Chị Nguyễn Thị H sinh năm 1982 (có mặt)
- Trú tại: thôn L, xã P, huyện T, TP Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Phạm Đức L và bị cáo Nguyễn Tiến L1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng năm 1999, anh Mai Xuân N1 sinh năm 1976, trú tại thôn L, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội có mối quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị H sinh năm 1982 (là người cùng thôn), nhưng hai bên không đi đến hôn nhân. Năm 2000, chị H kết hôn với Phạm Đức L sinh năm 1978 (người cùng thôn, ở phía sau nhà anh N1), còn anh N1 kết hôn với chị Phạm Thị Minh H3 sinh năm 1976. Từ khoảng tháng 9/2023, anh N1, chị H có nhắn tin, gặp gỡ, nói chuyện tình cảm với nhau nhiều lần. Ngày 25/4/2024 Phạm Đức L bị tai nạn giao thông nên thường xuyên ở nhà, do không đi làm được. Ngày 06/5/2024 L phát hiện chị H nhắn tin với N1 nên đã hỏi thì chị H thừa nhận có quan hệ tình cảm với anh N1. Khoảng 20 giờ ngày 06/5/2024, L yêu cầu chị H điện thoại hẹn gặp anh N1 ở khu vực nhà tang lễ thôn B, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội (là nơi chị H và anh N1 thường xuyên gặp nhau) vào khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày để 03 người nói chuyện mục đích yêu cầu chị H, anh N1 chấm dứt mối quan hệ này.
Sau khi chị H hẹn anh N1 xong thì L bảo chị H chở L ra lều trông cá của Nguyễn Tiến L1 sinh năm 1989 (em trai chị H) trú tại: thôn B, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội. L vào lều của L1, còn H tiếp tục đi xuống khu vực Phố V, xã D ăn chè một mình. Ăn xong chị H đi đến điểm hẹn với N1. Khi đến đầu thôn B, xã C thì gặp
N1 đi xe máy đến, sau đó cả 2 người đi ra khu vực nhà tang lễ thôn B. Tới nơi, anh N1 xuống xe, rồi ôm và có cử chỉ tình cảm với chị H.
Trước đó, khi L đến lều trông cá ngồi một lúc thì L1 đến. L bảo L1 đi cùng ra khu vực nhà tang lễ thôn B, xã C để bắt quả tang H có quan hệ bất chính với người khác. Do L1 vừa uống rượu say và biết tính L hay ghen nên L1 không đi, L1 nói “việc của anh chị, không liên quan tới tôi”. Trước đó, L có nói chuyện với L1 nhiều lần về việc nghi ngờ chị H có biểu hiện noại tình nhưng L1 không tin và cho rằng L hay ghen bóng gió nên L yêu cầu L1 phải đi cùng để chứng kiến nên L1 đồng ý. Sau đó, L, L1 đi bộ đến khu vực nhà tang lễ thôn B, khi gần đến nơi L1 nhìn thấy chị H và anh N1 đang đứng ôm nhau ở trong sân nhà tang lễ thôn B đi xuống ruộng rau gần đó lấy được 01 đoạn gậy gỗ cắm ở ruộng rau dài 74,5cm, hai đầu gậy có vết nứt, một đầu gậy có đường kính dài nhất 7cm, một đầu gậy có đường kính 4,5cm. L1 cầm đoạn gậy gỗ rồi trèo qua tường bao vào khu vực sân nhà tang lễ, khi đến cách vị trí anh N1 đứng khoảng 80cm thì L1 cầm gậy gỗ bằng tay phải vụt 01 phát theo chiều từ trên xuống về phía anh N1, anh N1 giơ tay phải ra đỡ thì bị gậy vụt trúng vào kẽ ngón I và II bàn tay phải. Anh N1 có xin L1, nhưng L1 tiếp tục dùng gậy vụt thêm 01 phát vào vùng chân của anh N1, khiến anh N1 bị khuỵu ngã xuống đất. Thấy vậy, chị H sợ bị đánh nên bỏ chạy về hướng đường B thuộc thôn B, xã C, huyện T.
Do chân bị đau nên L đi chậm hơn L1 và tới sau, khi vào sân nhà tang lễ L thấy anh N1 đã bị L1 đánh đang nằm ở sân. L hỏi anh N1 “vì sao là anh em trong họ với nhau mà N1 lại có hành động như vậy”, thì anh N1 có xin lỗi L. L tiếp tục hỏi anh N1 “anh đưa vợ tôi đi nhà nghỉ mấy lần rồi”, anh N1 nói “chưa có” nên Lợi tức giận dùng tay phải lấy một chiếc đèn pin có hai cực phát điện ở phần đầu đèn (dùi cui điện) ở trong túi quần bên phải dí 2 lần phần đầu dùi cui điện vào vùng mạn sườn bên phải của anh N1 đồng thời bấm nút điện 02 (hai) lần nhưng đều không phát điện. Lợi dí và bấm tiếp lần thứ ba thì dùi cui phát ra tia điện cùng với tiếng kêu “tạch tạch” rồi hết điện. Lúc này, anh N1 thừa nhận có hai lần đưa H vào nhà nghỉ nhưng chưa quan hệ tình dục. Khi nghe thấy anh N1 nhận có đưa H đi nhà nghỉ thì L1 bực tức, tiếp tục cầm gậy vụt thêm 02 cái theo chiều từ trên xuống trúng vào vùng cẳng hai chân của anh N1, anh N1 kêu “gẫy chân tao rồi” thì L1 không đánh nữa.
Khi chị H bỏ chạy được một đoạn thì trấn tĩnh và quay lại nhà tang lễ. Lúc này, H thấy L đang nói chuyện với anh N1 nên H chạy đến quỳ xuống xin lỗi L nhưng L đẩy H ra và đuổi về trước, L ở lại nói chuyện với anh N1 được khoảng 10 phút rồi đi về. Khi đi được vài bước thì L quay lại nói với anh N1 “cái điện thoại của anh chắc còn đầy ảnh của vợ tôi trong đấy”, anh N1 liền rút chiếc điện thoại ra và tự tay tháo phần vỏ ốp bằng bao da rồi cầm điện thoại đập xuống nền bê tông nhà tang lễ. Sau đó L, L1 đi về, trên đường về L gặp H nên L bảo H quay lại xem Nam như thế nào, nếu cần thì đưa đi viện. H quay lại nhà tang lễ thấy anh N1 bị thương ở chân nên bảo N1 lên xe để H đưa đi viện nhưng anh N1 không đồng ý, bảo H cứ về trước vì N1 đã gọi người nhà đến đón rồi nên H đi về. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày anh Nguyễn Đình K1 đi qua phát hiện anh N1 bị thương nên đã báo người nhà anh N1 đến đưa đi Bệnh viện.
Hậu quả: Mai Xuân N1 bị thương ở bàn tay trái, gẫy xương cẳng chân trái, gãy xương cẳng chân phải, mẻ lồi cầu ngoài xương đùi trái phải điều trị tại Bệnh viện H4
từ ngày 07/5/2024 đến ngày 12/5/2024, Bệnh viện Đ từ ngày 12/5/2024 đến ngày 23/5/2024.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 gậy gỗ hình trụ tròn không đồng nhất, có chiều dài 74,5cm đã cũ tối màu, hai đầu gậy có vết nứt, một đầu gậy có đường kính dài nhất 7cm, một đầu gậy có đường kính 4,5cm.
- - 01 màn hình điện thoại cảm ứng màu đen, diện 16x7,3cm, bị nứt vỡ và một miếng dán màn hình màu trắng diện 15,8x7cm bị nứt vỡ.
- - 01 vật dạng đèn pin, màu đen có vỏ bằng nhựa dài 18cm, đường kính phần đầu đèn dài 4cm, đường kính phần đuôi đèn dài 3cm, dạng hình trụ tròn (do Phạm Đức L giao nộp ngày 24/5/2024).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 3637/KL-KTHS ngày 20 tháng 6 năm 2024 của V1 - Bộ C3 kết luận:
“2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể
Đối chiếu với Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau:
- - Vết thương đang liền sẹo kẽ ngón I, II bàn tay phải, kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc 1, 4 và Mục I.1, chương 8).
- - Vết phẫu thuật và vết thương đang liền sẹo mặt trước 2/3 trên cẳng chân phải, kích thước trung bình: 02% (áp dụng Nguyên tắc 1,3,4 và Mục I.2, chương 8)
- - 02 vết thương đang liền sẹo mặt trước cẳng chân phải, kích thước nhỏ, mỗi vết: 01% (áp dụng Nguyên tắc 1,4 và Mục I.1, C2 8).
- - Vết phẫu thuật và vết thương đang liền sẹo mặt trước 2/3 trên cẳng chân trái, kích thước trung bình: 02% (áp dụng Nguyên tắc 1,3,4 và Mục I.2, C).
- - Gãy 1/3 trên hai xương cẳng chân phải, đang can liền, thẳng trục, không ngắn chi: 16% (áp dụng Mục. 13.1, C2 7).
- - Gãy 1/3 trên hai xương cẳng chân trái, đang can liền, thẳng trục, không ngắn chi: 16% (áp dụng Mục. 13.1, C2 7).
- - Mẻ lồi cầu ngoài xương đùi trái: 03% (áp dụng Nguyên tắc chung 1, C).
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Mai Xuân N1 tại thời điểm giám định là: 36% (Ba mươi sáu phần trăm).
2.2. Cơ chế hình thành thương tích
- Các tổn thương trên cơ thể của anh Mai Xuân N1 do vật tày gây nên.”
Tại Bản kết luận giám định số 4109 ngày 28/6/2024 của V1 - Bộ C3, kết luận:
“Mẫu vật gửi giám định là dùi cui điện, thuộc công cụ hỗ trợ”
Tại Văn bản số 14/HĐĐGTS ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện T, trả lời kết quả như sau:
“Qua nghiên cứu, xem xét hồ sơ, tài liệu do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T cung cấp, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T nhận thấy tài sản bị hủy hoại và không thu được tài sản, không có các chứng từ và tài liệu chứng minh thông tin đặc điểm, không xác định được tình trạng ban đầu của tài sản,
hồ sơ cung cấp không đủ để làm căn cứ định giá nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T thống nhất không định giá tài sản sau:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A04S (không thu được xác điện thoại)
Thời điểm định giá: 06/5/204.”
Đối với chiếc dùi cui điện (là công cụ hỗ trợ), Phạm Đức L sử dụng để gây thương tích cho Mai Xuân N1: Quá trình điều tra L khai nhận, chiều tối ngày 06/5/2024 L nhặt được chiếc dùi cui ở đầu ngõ thôn L, xã P nhưng chưa giao nộp cho cơ quan chức năng, đến tối cùng ngày L mang theo dùi cui điện và sử dụng để đánh anh N1. Phạm Đức L chưa có tiền án, tiền sự do vậy hành vi của L không cấu thành tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ” theo quy định tại Điều 306 BLHS. Ngày 02/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Đức L. Ngày 10/9/2024, Ủy ban nhân dân huyện T ra Quyết định xử phạt hành chính đối với L số tiền 15.000.000 đồng về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ, đã nộp phạt ngày 16/9/2024.
Đối với Nguyễn Thị H, khi bị chồng phát hiện có quan hệ tình cảm với Mai Xuân N1 thì H đã hẹn gặp N1 để nói chuyện chấm dứt quan hệ tình cảm theo yêu cầu của L. Tuy nhiên, H không bàn bạc, tiếp nhận ý chí của L, L1 về việc đánh gây thương tích cho N1. Do vậy, H không đồng phạm với L1 và L.
Đối với chiếc điện thoại di động của anh N1 bị vỡ, tại cơ quan điều tra anh N1 trình bày: trước khi L1 và L đi về thì L nói “đập điện thoại của nó”, thì anh N1 tự rút điện thoại trong túi quần ra và tung lên cho rơi xuống nền bê tông, khiến chiếc điện thoại bị hư hỏng, sau đó L1 tiếp tục dùng gậy đập nát chiếc điện thoại trên. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã cho L1, L, N1 đối chất, tuy nhiên ngoài lời khai của N1 không có tài liệu khác chứng minh. Cơ quan CSĐT đã tiến hành các biện pháp điều tra, truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được chiếc điện thoại trên để định giá tài sản. Người bị hại và người liên quan không cung cấp được thêm tài liệu gì khác về chiếc điện thoại bị hư hỏng, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không có căn cứ xem xét, xử lý là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã yêu cầu bị hại anh Mai Xuân N1 đưa ra mức yêu cầu bồi thường thiệt hại, tuy nhiên anh N1 trình bày sẽ đưa ra mức yêu cầu bồi thường khi vụ án được chuyển đến Tòa án.
Ngày 13/11/2024 N1 có đơn kèm bảng kê yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe tổng số tiền 586.524.137 đồng gửi Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai. Tại Phiên tòa bị hại N1 tiếp tục yêu cầu bổ sung thêm mức bồi thường là số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng).
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai, truy tố các bị cáo Phạm Đức L và Nguyễn Tiến L1 về tội “Cố ý gây
thương tích” theo điểm a khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính:
- - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 BLHS, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Phạm Đức L mức án từ 30-36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/7/2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 BLHS, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L1 mức án từ 30-36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 05 năm.
Giao bị cáo Nguyễn Tiến L1 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585 và 590 BLDS năm 2015 buộc Phạm Đức L, Nguyễn Tiến L1 phải liên đới bồi thường cho anh Mai Xuân N1 số tiền từ 220.000.000 đồng đến 230.000.000 đồng. Mỗi người số tiền từ 110 triệu -115 triệu đồng.
Hai bị cáo L và L1 được đối trừ số tiền bồi thường thiệt hại cho anh N1 mỗi người 100.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai.
Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 gậy gỗ hình trụ tròn không đồng nhất, có chiều dài 74,5cm đã cũ tối màu, hai đầu gậy có vết nứt, một đầu gậy có đường kính dài nhất 7cm, một đầu gậy có đường kính 4,5cm.
- + 01 vật dạng đèn pin, màu đen có vỏ bằng nhựa dài 18cm, đường kính phần đầu đèn dài 4cm, đường kính phần đuôi đèn dài 3cm, dạng hình trụ tròn.
- - Trả lại cho anh Mai Xuân N1:
- 01 màn hình điện thoại cảm ứng màu đen, diện 16x7,3cm bị nứt vỡ và một miếng dán màn hình màu trắng diện 15,8x7cm bị nứt vỡ.
Về Án phí:
Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại có quan điểm đề nghị hội đồng xét xử xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định. Đề nghị khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị H về vai trò đồng phạm với L1, L. Đề nghị xử lý các bị cáo về hành vi hủy hoại chiếc điện thoại của anh N1, đề nghị xem xét hành vi có tính chất côn đồ của hai bị cáo và yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự đối với 02 bị cáo số tiền là 2.086.524.137 đồng (trong đó 586.524.137 đồng là tiền yêu cầu bồi thường trước khi mở phiên tòa, tại phiên tòa yêu cầu bồi thường thêm 1,5 tỷ đồng tiền sau này bị hại không có khả năng lao động cho tới lúc nghỉ hưu. Anh N1 làm nghề thợ xây).
Người bào chữa cho 02 bị cáo có quan điểm: Nguyễn Thị H không tiếp nhận ý chí của L1, L trong việc đánh gây thương tích cho 02 bị cáo, nên H không đồng
phạm. Bản thân bị hại có lỗi một phần. Về chiếc điện thoại bản thân bị hại là anh N1 cũng thừa nhận là người trực tiếp, tự tay cầm điện thoại tung lên cho rơi xuống nền bê tông dẫn đến chiếc điện thoại bị hư hỏng. Do vậy không có việc các bị cáo hủy hoại tài sản của anh N1, không có việc các bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ. Về việc yêu cầu bồi thường mức bị hại đưa ra là quá cao. Đến nay gia đình các bị cáo đã nộp số tiền 200 triệu vào chi cục thi hành án dân sự huyện để bồi thường cho bị hại.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm tra viên: Không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng anh Nguyễn Đình K1. Anh K1 đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo Phạm Đức L và Nguyễn Tiến L1, người bị hại, nhân chứng. Có đủ căn cứ chứng minh: Xuất phát từ việc anh Mai Xuân N1 và chị Nguyễn Thị H (đều đã lập gia đình riêng) nhưng từ khoảng tháng 9/2023 anh N1 và chị H có liên lạc nhắn tin, hẹn gặp và nói chuyện tình cảm với nhau nên bị Phạm Đức L (chồng H) phát hiện. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/5/2024 theo yêu cầu của L thì chị H đã hẹn anh N1 ra khu vực nghĩa trang thôn B, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội, mục đích nói chuyện chấm dứt quan hệ tình cảm. Sau đó, L đã yêu cầu Nguyễn Tiến L1 (em trai H) đi cùng để gặp N1. Khi đó L1 đi trước đến gần khu vực nghĩa trang T4 nhìn thấy H, Nam đang đứng ôm nhau. Tại đây, L1 có hành vi dùng 01 chiếc gậy gỗ, có chiều dài 74,5cm một đầu gậy có đường kính rộng nhất 7cm, một đầu gậy có đường kính 4,5cm là hung khí nguy hiểm vụt 01 phát trúng vào bàn tay phải và 03 phát trúng vào hai chân của anh N1. Phạm Đức L có hành vi dùng dùi cui điện dài 18cm, đường kính phần đầu đèn pin dài 4cm là hung khí nguy hiểm bấm nút điện phát ra tia lửa điện dí vào khu vực mạn sườn anh N1 khiến anh N1 bị tổn hại 36% sức khỏe.
Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự thì hành vi nêu trên của Phạm Đức L và Nguyễn Tiến L1 đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa chị H3 (vợ bị hại) và bị hại có trình bày: trong quá trình giải quyết vụ án, thì gia đình bị cáo L2 có mang tới nhà bị hại 200 triệu đồng để bồi thường thiệt hại. Chị H3 đã đồng ý và nhận số tiền trên, sau đó lại trả lại cho gia đình bị cáo, lý do gia đình bị hại không đồng ý.
Bị hại anh N1 trình bày trong vụ việc trên bản thân anh N1 có lỗi một phần.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Bị cáo Phạm Đức L và Nguyễn Tiến L1 là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã tích cực nhờ gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Mỗi gia đình bị cáo đã nộp 100.000.000 đồng, tổng là 200.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai.
Về tính chất của vụ án: Đây là vụ án rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người được Nhà nước bảo vệ. Bởi vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với mỗi bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
-Tuy nhiên khi lượng hình hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo ở chỗ: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn nổi cải, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khắc phục toàn bộ chi phí thiệt hại cho bị hại. Bị hại cũng là người có lỗi trong vụ việc.
* Về Trách nhiệm dân sự: Bị hại Mai Xuân N1 yêu cầu Nguyễn Tiến L1, Phạm Đức L phải bồi thường tổng số tiền là: 2.086.524.137 đồng.
Cần buộc 02 bị cáo L1, L phải bồi thường các khoản chi phí sau cho anh N1:
- Tiền chi phí điều trị và tiền thuốc theo hóa đơn là: 81.957.437 đồng.
| STT | Ngày | Bệnh viện | Nội dung | Số tiền |
|---|---|---|---|---|
| 1. | 12/5/2024 | BV hữu nghị Việt Đức | Hóa đơn bán hàng | 47.487.229 |
| 2. | 28/5/2024 | Hóa đơn bán hàng | 260.000 | |
| 3. | 13/6/2024 | Phiếu chụp x quang số hóa | 900.000 | |
| 4. | 13/6/2024 | Phiếu chụp x quang số hóa | 700.000 | |
| 5. | 13/6/2024 | Hóa đơn bán hàng | 900.000 | |
| 6. | 13/6/2024 | Phiếu thu | 706.200 | |
| 7. | 4/9/2024 | Phiếu thu | 567.000 | |
| 8. | 4/9/2024 | Phiếu chụp x quang số hóa | 900.000 | |
| 9. | 7/11/2024 | Phiếu chụp x quang số hóa | 942.350 | |
| 10. | 7/11/2024 | Phiếu thu | 1.134.000 | |
| 11. | 20/5/2024 | Bệnh viện Hà Đông | Phiếu chỉ định x quang kỹ thuật số | 68.300 |
| 12. | 23/5/2024 | Biên lại thu tiền | 11.001.037 | |
| 13. | 3.6.2024 | Biên lai thu tiền | 42.100 | |
| 14. | 4.6.2024 | Bệnh viện Thanh Oai | Hóa đơn bán hàng | 220.000 |
| 15. | 05.6.2024 | Phiếu xuất hàng | 693.000 | |
| 16. | 5.6.2024 | Phiếu xuất hàng | 9.675 | |
| 17. | Bảng kê chi phí nội trú | 3.715.788 | ||
| 18. | 15.6.2024 | Đơn thuốc kềm phiếu xuất hàng | 2.520.000 | |
| 19. | 1.7.2024 | Hóa đơn bán hàng | 1.858.980 | |
| 20. | 15.7.2024 | Đơn thuốc + phiếu xuất | 840.000 | |
| 21. | 15.8.2024 | Hóa đơn bán hàng | 340.778 | |
| 22. | 20.8.2024 | Đơn thuốc + phiếu xuất | 840.000 | |
| 23. | 07/5/2024 | Nhà thuốc 24H VN | Phiếu thanh toán | 154.000 |
| 24. | 07/5/2024 | Nhà thuốc 24H VN | Phiếu thanh toán | 750.000 |
| 25. | 08/5/2024 | Nhà thuốc mở cửa 24H | Hóa đơn bán hàng | 580.000 |
| 26. | 25/5/2024 | Nhà thuốc Minh Châu 68 | Hóa đơn bán hàng | 1.580.000 |
| 27. | 26/5/2024 | Nhà thuốc Minh Châu 68 | Bông bạch tuyết, Ugo tana, gạc tiệt trùng | 47.000 |
| 28. | 03/6/2024 | Hóa đơn mua xe lăn | 2.200.000 | |
| 29. | Tổng | 81.957.437 |
- - Tiền chi phí thuê phương tiện đến cơ sở khám chữa bệnh: 10.000.000 đồng.
- - Tiền công người chăm sóc trong thời gian nằm viện từ ngày 07/5/2024 đến ngày 23/5/2024 (01 người chăm sóc), anh B và anh K đều làm lao động tự do: 250.000 đồng/01 ngày x 17 ngày = 4.250.000 đồng.
- - Sau khi ra viện về nhà, cần 01 người chăm sóc, thời gian 03 tháng: 3 tháng x 6.000.000 đồng = 18.000.000 đồng
- -Thu nhập bị mất trong thời gian nằm viện điều trị: 300.000 đồng/ngày x 17 ngày = 5.100.000 đồng
- - Thu nhập thực tế bị mất trong thời gian không đi làm được của anh N1: 5 tháng x 6.000.000 đồng = 30.000.000 đồng.
- -Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, tổn thất về tinh thần: 80.000.000 đồng
Tổng số tiền được chấp nhận là: 229.000.000 đồng
-Về Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo: Phạm Đức L và Nguyễn Tiến L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54, điều 38 Bộ luật Hình sự;
-Xử phạt: Bị cáo Phạm Đức L 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 16/7/2024.
3. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến L1 30 (Ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án ngày 15/11/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Tiến L1 cho UBND xã C, huyện T, TP . giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Về vật chứng của vụ án, tài sản thu giữ: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 gậy gỗ hình trụ tròn không đồng nhất, có chiều dài 74,5cm đã cũ tối màu, hai đầu gậy có vết nứt, một đầu gậy có đường kính dài nhất 7cm, một đầu gậy có đường kính 4,5cm.
- + 01 vật dạng đèn pin, màu đen có vỏ bằng nhựa dài 18cm, đường kính phần đầu đèn dài 4cm, đường kính phần đuôi đèn dài 3cm, dạng hình trụ tròn.
- - Trả lại cho anh Mai Xuân N1:
- 01 màn hình điện thoại cảm ứng màu đen, diện 16x7,3cm bị nứt vỡ và một miếng dán màn hình màu trắng diện 15,8x7cm bị nứt vỡ
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585 và 590 BLDS năm 2015: Buộc Phạm Đức L và Nguyễn Tiến L1 phải liên đới bồi thường cho anh Mai Xuân N1 tổng số tiền được chấp nhận là: 229.000.000 đồng. Cụ thể: Phạm Đức L 114.500.000 đồng; Nguyễn Tiến L1 114.500.000 đồng.
Được đối trừ số tiền Gia đình mỗi bị cáo đã nộp cho mỗi bị cáo 100.000.000 đồng. Buộc mỗi bị cáo phải nộp tiếp số tiền 14.500.000 đồng để bồi thường cho anh N1.
7. Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS 2015, điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí, buộc bị cáo Phạm Đức L, Nguyễn Tiến L1 phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo L1, L mỗi bị cáo phải nộp 5.725.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo, người bị hại Mai Xuân N1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 15/11/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Dũng |
Bản án số 103/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TP. HÀ NỘI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 103/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích (Phạm Đức L - Nguyễn Tiến L1)
