Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày 14/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Minh Khôi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cửu Hưng và ông Lê Quang Minh Nhật.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Lực – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102//2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến V

  • sinh năm 1999, tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Trịtrình độ học vấn:10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1972, cùng trú tại: Khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có;
  • Tiền án, tiền sự: Không.
  • Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay - Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 2000; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
  • + Anh Lê Minh Hoàng H1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 27/3/2024, Nguyễn Tiến V sử dụng điện thoại số 0837.419.xxx mượn của Nguyễn Quốc D (bạn V), gọi vào số máy 0777.759.494 của Nguyễn Ngọc D1 (sinh năm 1994, trú tại khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị) hỏi mua230.000 đồng ma túy thìDũng đồng ý bán 08 viên ma túy hồng phiến. V nóisẽ chuyển khoản cho D1 350.000 đồng trong đó, 230.000 đồng tiền mua ma túy và 120.000 đồngtiềntrả nợ. D1 đồng ý và đưa số tài khoản ngân hàng của D1 để V chuyển tiền. V đã chuyển vào tài khoản số 10215091994 của D1 mở tại Ngân hàng M số tiền 350.000 đồng. Sau khi chuyển tiền xong, V thuê taxi đến nhà D1 tại kiệt A đường N, thuộc khu phố H, Phường E, thành phố Đ để lấy ma túy. Khi đến trước cồng nhà D1, V sử dụng số điện thoại của mình số 0823.856.xxx gọi vào số máy 0777.759.494 của D1 để thông báo V đã tới. Lúc này, D1 dùng 01 mãnh giấy kẽm gói 08 viên ma túy hồng phiến, rồi đưa cho Lê Minh Hoàng H1 (sinh năm 1996, trú tại khu phố A, Phường E, thành phố Đ) giao cho V. Sau khi mua được ma túy, V cất giấu ở tay trái rồi đi bộ ra kiệt 123/8 đường N bị lực lượng Công an thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ gồm: 08 viên nén màu hồng, hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY; 01 mảnh giấy kẻmmàu bạc kích thước 5,7 x 5,0 cm và 01 điệm thoại di động nokia màuđen, đã qua sử dụng có số thuê bao 0823.856.225.

Tại bản kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:08 viên nén màu hồng, hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine,khối lượng mẫu là 0,7574 gam.

Cáo trạng số: 104 /CT-VKSĐHngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Tiến V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến V từ 17 đến 19 tháng tù.
  • - Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy và bao gói hoàn lại sau giámđịnh được niêm phong trong phong bì có mã số QT-S 451 bên ngoài có chữ ký của nhừng người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước01 điện thoại di động hiệu nokia màu đen, số imeil: 353419/04/483902/0, số imeil 2: 865222040676326.
  • - Buộc bị cáo phải chịuán phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Tiến V trình bày lời nói sau cùng: Sau những ngàybị tạm giam bị cáo thấy rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, nay bị cáo xin Hộiđồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáokhông có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến V đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 15 phút,ngày 27/3/2024, bị cáoNguyễn Tiến V1 có hành vi mua08 viên ma túy, rồi cất giấu ở tay trái của mình để nhằm mụcđích sử dụngthì bị Công an thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ 08 viên ma túy mà bị cáo V cất giấu ở tay trái.

Căn cứ bản kết luận giám định cho thấy:08 viên ma túy thu giữ của bị cáo V2 ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,7574 gam. Theođiểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 01 năm đến 05 năm”...c) Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến V đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Trong tình hình hiện nay ma túy đang là một trong những tệ nạn bức xúc nhất của xã hội, ma túygây ra tác hại rất nhiều mặt đến đời sống kinh tế và xã hội, gây nên sự bất an, làm mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến đời sống của quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt xét thấy: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo V đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo hiện là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, cần xem xétđể giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đối với Nguyễn Ngọc D1 và Lê Minh Hoàng H1 là người bán ma túy cho Nguyễn Tiến V hiệnđã bị khởi tố về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” trong vụ án khác nên H2 xét xửkhông xem xét.

Đối với Nguyễn Quốc D là ngườicho bị cáo Việt mượnđiện thoạiđểđiện thoại cho D1. Nhưng D không biết Việtsử dụng điện thoại của mình gọi điện thoại cho D2 ma túy tàng trữ, sử dụng nêu cơ quan điều tra không xem xét trách nhiện hình sựđối với Dương làđúng pháp luật nên không xem xét.

Về xử lývật chứng: Quá trình điều tra Công an thành phố Đ hiệnđang tạm giữ gồm:01 Phong bì niêm phong ký hiệu mã số QT-S 451, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q và01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số imeil: 353419/04/483902/0, số imeil 2: 865222040676326. Xét thấy:

  • - Đối với01 Phong bì niêm phong ký hiệu mã số QT-S 451, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q. Đây là sốma túy và bao gói được hoàn lại sau giám định thuộc vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • -Đối với điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số imeil: 353419/04/483902/0, số imeil 2: 865222040676326.Đây làđiện thoại của bị cáo V, nhưng do bị cáo sử dụngđể làm công cụ, phương tiện liên quan đến việc pham tôi nên cần tịch thu nộp ngân sáchnhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.Tiếp tục ban hành Quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến V3 (Mười bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 27/3/2024.

  2. Về xử lývật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • -Tịch thu, tiêu hủy một phong bì niêm phong ký hiệu mã số QT-S 451, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số imeil: 353419/04/483902/0, số imeil2:865222040676326.

    Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - VKSND TP Đông Hà;
  • - Công an TP Đông Hà;
  • - Thi hành án Hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Chi cục THADS TP Đông Hà;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tổ HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Minh Khôi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến Việt phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger