|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2024/HSST Ngày: 06/9/2024 |
NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Định, ông Hoàng Xuân Dũng.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thùy Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kẻo- Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lỳ Lỳ S, sinh năm 2004, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 10/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lỳ P, sinh năm 1988, con bà Chu Phù D, sinh năm 1984; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 02/4/2024, tại bản Thu Lũm 2, xã T huyện M, Lỳ L, sinh ngày 28/3/2004, trú tại bản Thu Lũm 2, xã T, huyện M nhờ Lỳ P, sinh năm: 1995, trú tại bản Thu Lũm, xã T, huyện M chở S đi đến bản L, xã T để tìm mua Heroine về sử dụng và được Giá đồng ý (S không nói cho G biết mục đích của G là đi tìm mua Heroine). Sau đó, G điều khiển xe máy chở S đi đến địa điểm như đã nêu ở trên. Khi G chở S đi đến khu vực cách bản Ló Na, xã T khoảng 50m S bảo G dừng xe và đứng đợi S tại đó. Sau đó, S một mình đi bộ vào trong bản Ló Na, xã T. Tại đây, S gặp và nhờ một người đàn ông dân tộc La Hủ, lạ mặt đi mua hộ 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng để sử dụng. Mua được H, S cất giấu trong túi áo khoác bên trái mà S đang mặc trên người rồi đi bộ quay ra chỗ G đang đợi và tiếp tục nhờ Giá chở về bản T, xã T (S không nói cho G biết S mua và tàng trữ Heroine trên người). Đến bản Thu L, S xuống xe đi bộ trong bản, G đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày 02/4/2024, khi S đang đi bộ trong bản Thu Lũm, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu thì bị Tổ công tác Công an xã T đang tuần tra, kiểm soát tại khu vực yêu cầu dừng để kiểm tra. Do không có đủ thành phần để chứng kiến cho việc kiểm tra của tổ công tác Công an xã T nên Tổ công tác đã yêu cầu S về Trụ sở Công an xã T thuộc bản Thu Lũm 2, xã T để kiểm tra. Vào hồi 17 giờ 00 phút cùng ngày, tại Trụ sở Công an xã T, tổ công tác đã mời người chứng kiến đến để chứng kiến việc tổ công tác tiến hành kiểm tra người của S. Quá trình kiểm tra thì phát hiện, thu giữ bên trong túi áo khoác bên trái mà S đang mặc 01 gói Heroine như đã mô tả ở trên. Trước sự việc trên, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định số: 33/KLGĐ ngày 02/4/2024 của Người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 01 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lỳ Lỳ S có khối lượng là 0,14 gam (Không phẩy mười bốn gam).
Tại kết luận giám định số 402/GĐ-KTHS ngày 07/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 01 Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lỳ Lỳ S gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Tại bản cáo trạng số 54/CT- VKS-MT ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Lỳ Lỳ S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lỳ Lỳ S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lỳ Lỳ S từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 phong bì công văn màu trắng do Công an xã T phát hành đã bị cắt một đầu.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 17 giờ 00 phút, ngày 02/4/2024, tại Trụ sở Công an xã T thuộc bản T, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu. Lỳ L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện M phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Do đó hành vi của bị cáo Lỳ Lỳ S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lỳ Lỳ S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản và không giữ chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc số H: S khai nhờ người đàn ông lạ mặt đi mua hộ với giá 100.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Đối với Lỳ Phu G là người điều khiển xe máy chở Lỳ Lỳ S đi đến bản L, xã T: Quá trình điều tra xác định, G không biết việc S mua và tàng trữ trái phép chất ma túy, nên G không phạm tội. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,14 gam Heroine thu giữ của bị cáo Cơ quan Điều tra đã gửi hết đi giám định và không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập giải quyết. Vật chứng còn lại 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 phong bì công văn màu trắng do Công an xã T phát hành đã bị cắt một đầu, tất cả đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số và sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Lỳ Lỳ S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 phong bì công văn màu trắng do Công an xã T phát hành đã bị cắt một đầu.
- Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Xử phạt bị cáo Lỳ Lỳ S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 19/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Bình |
Bản án số 103/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 103/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ...
