Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày 24 – 6 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm.
  • Bà Đoàn Thị Bảy.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Lo – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/TLST - HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 27/7/1980, tại Cà Mau; nơi thường trú: Khóm A, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Khóm A, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Thái Thị P (còn sống); vợ, con: Chưa có; Anh em ruột: 03 người, bị cáo là người con lớn nhất trong gia đình; tiền án: Không;

Tiền sự: 01 lần, Ngày 03/02/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau ra quyết định số 11/QĐ – XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức xử phạt: Phạt tiền 2.500.000 đồng, chấp hành xong ngày 27/5/2023;

Về nhân thân: Tại Bản án hình sự số 35/2004/HS – ST ngày 16/3/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2006, chấp hành xong phần án phí ngày 09/6/2004.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 176/2006/HS – ST ngày 07/12/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2008; phần án phí chấp hành xong ngày 29/02/2007;

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 157/2008/HS – ST ngày 20/10/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/01/2011; phần án phí chấp hành xong ngày 26/03/2009;

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2019/HS – ST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 02 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/07/2020; phần án phí chấp hành xong ngày 29/05/2019;

Bị tạm giam từ ngày 26/02/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1978. Địa chỉ nơi cư trú: Số G, Q, Khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 28/9/2023, anh Nguyễn Văn L1 điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát số 69F9 – 7234 đến đậu trước nhà K, phường H, thành phố C, khi đậu xe anh L1 để chìa khóa xe trong ổ khóa xe, rồi đi hành nghề vá vỏ xe cho khách. Đến 19 giờ cùng ngày thì phát hiện xe bị mất nên trình báo Công an phường H, thành phố C. Qua xác minh và truy tìm đối tượng đến 20 giờ 05 phút ngày 28/9/2023, phát hiện Nguyễn Thành L đang ngồi trên xe của anh L1 bị mất trộm, thuộc khóm G, phường G, thành phố C thì lực lượng tiến hành kiểm tra xe mô tô có số máy 52FMH – 204748; số khung 2MM51204748; trong cóp xe có một giấy đăng ký mô tô biển số kiểm soát số 69F9 – 7234, số máy 52FMH – 204748; số khung 2MM51204748 và một giấy phép láy xe hạn A1 tên Nguyễn Văn L1, trên xe có ba chìa khóa xe.

Công an tiền hành thu giữ xe và các giấy tờ trên, tiền hành mời Nguyễn Thành L làm việc, sau khi làm việc Nguyễn Thành L không thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng lấy nhầm xe của anh L1.

Ngày 29/9/2023, Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất 02 đoạn video từ camera của nhà khách trung trực.

Về tang vật của vụ án: 01 khiển xe mô tô biển số kiểm soát số 69F9 – 7234; 10 giấy đăng ký xe mô tô biển số kiểm soát số 69F9 – 7234; 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ca rô màu xanh đen hiệu AKUB; 01 quần Jean loại quần dày màu xanh hiệu Thuận Phát MADE IN VIETNAM; 01 đôi dép quay kẹp màu xám, trên quay có chữ have ienas; 02 nón kết màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón có 03 sọc màu đỏ - trắng – xanh.

Tại Bản kết luận định giá số 123/KL-HĐĐG ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: Vào thời điểm 28 tháng 9 năm 2023: 01 xe mô tô biển số kiểm soát số 69F9 – 7234, số máy 52FMH – 204748; số khung 2MM51204748, đã qua sử dụng, giá trị lại 1.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành L không thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng bị cáo thừa nhận là người người thanh niên trong hai đoạn video của camera thu giữ của nhà khách trung trực chính là bị cáo, thừa nhận có lấy xe của anh L1 nhưng cho là lấy nhầm xe, không có ý định trộm xe của anh L1.

Anh Nguyễn Văn L1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Tại Cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thành L theo Cáo trạng số: 108/CT-VKS ngày 22/5/2024 và đề nghị:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ca rô màu xanh đen hiệu AKUB; 01 quần Jean loại quần dài màu xanh hiêu Thuận Phát MADE IN VIETNAM; 01 đôi dép quay kẹp màu xám, trên quay có chữ have ienas; 01 nón kết màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón có 03 sọc màu đỏ - trắng – xanh.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, thống nhất với quan điểm luận tội của kiểm sát viên. Nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

[2] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đúng như cáo trạng của viện kiểm sát tuy tố và thống nhất với quan điểm luận tội của kiểm sát viên, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tại các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 18 giờ 51 phút, ngày 28/9/2023, bị cáo thực hiện hành vi lén lúc chiếm đoạt xe mô tô biển số kiểm soát số 69F9 – 7234 của anh Nguyễn Văn L1, giá trị là 1.500.000 đồng, với mục đích tư lợi cho cá nhận thì bị bắt cùng tang vật.

[3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lén lúc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố C.

Bị cáo thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị hại có giá trị 1.500.000 đồng là dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” được thể hiện tại Quyết định số 11/QĐ – XPHC ngày 03 tháng 02 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, hành vi “Trộm cắp tài sản” lần này của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự.

Từ những căn cứ, phân tích và nhận định nêu trên, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thành L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện khẩn khai báo, sự ăn năn hối cải nên đủ điều kiện áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Đối với việc bị cáo chiếm đoạt xe có giá trị 1.500.000 đồng là ngoài ý chí chủ quan của bị cáo nên không đủ điều kiện áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, nhưng bị cáo có nhân thân xấu. Hơn nữa, bị cáo đã bị Tòa án xét xử nhiều lần với nhiều tội dạnh, mức án khác nhau. Sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương, lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân, rèn luyện phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội nhưng bị cáo tỏ thái độ bất chấp pháp luật và lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cho nên lần phạm tội này của bị cáo cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, nhằm phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng:

[5.1] Đối với xe mô tô biển số kiểm soát số 69F9 – 7234, giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy phép lái xe, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại nên không đặt ra xem xét.

[5.2] Đối với 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ca rô màu xanh đen hiệu AKUB; 01 quần Jean loại quần dài màu xanh hiêu Thuận Phát MADE IN VIETNAM; 01 đôi dép quay kẹp màu xám, trên quay có chữ have ienas; 01 nón kết màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón có 03 sọc màu đỏ - trắng – xanh của bị cáo giao nộp

hiện không còn giá trị sử dụng, bị cáo không nhận lại, nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.

[7] Đối với người đàn ông chở người đàn ông khoảng 50 tuổi cho số điện thoại của bị cáo cho chị N là vợ bị hại. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân nên giao Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh có căn cứ xử lý sau là phù hợp.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/02/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ca rô màu xanh đen hiệu AKUB; 01 quần Jean loại quần dài màu xanh hiêu Thuận Phát MADE IN VIETNAM; 01 đôi dép quay kẹp màu xám, trên quay có chữ have ienas; 01 nón kết màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón có 03 sọc màu đỏ - trắng – xanh (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 01 năm tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger