|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày: 12 - 6 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Thái Thị Hồng Vân |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Hoàng Thị Hường |
| Ông Hồ Bá Võ |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 183/2023/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Như Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09/10/1992; N sinh: Huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm V, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Con ông Nguyễn Như Đ1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; Anh chị em ruột: 03 người, bị cáo con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị H; Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sự: Không.
Tiền án:
- Ngày 09/6/2009, bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 143/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/12/2010.
- Ngày 17/7/2012, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 4 năm 6 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 183/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2015. (Chưa thi hành án dân sự về án phí và bồi thường).
Nhân thân:
Ngày 17/01/2017, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N khởi tố về tội: “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự 1999.
Ngày 17/5/2017, Viện KSND huyện N ra Quyết định đình chỉ vụ án, bị can đối với Nguyễn Như Đ do chuyển biến của pháp luật hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội. Ngày 11/7/2017, Công an huyện N ra Quyết định xử phạt hành chính 5.000.000 đồng về hành vi vận chuyển trái phép pháo nổ.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 10/5/2023 đến 23/9/2023 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Xóm V, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt.
- Nguyễn Đào S, sinh năm 1991; Địa chỉ: Xóm F, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 12/2022, Nguyễn Như Đ lên mạng xã hội facebook đặt mua 01 khẩu súng và 04 viên đạn với giá 15.000.000 đồng. Ít ngày sau, nhận được súng đạn, Nguyễn Như Đ cho súng đạn vào một chiếc túi vải và cất dấu ở trong bụi cây cạnh nhà của mình.
Ngày 05/05/2023, Nguyễn Như Đ đang ở khách sạn S1 khối C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An thì xảy ra mâu thuẫn trên mạng xã hội với Quang A (người Hà Tĩnh, chưa rõ thông tin lai lịch). Quang A hẹn Nguyễn Như Đ ra quảng trường Phan Đăng L, thị trấn Y để giải quyết mâu thuẫn. Đêm 05/05/2023, Nguyễn Như Đ rủ bạn là H1 (người xã Đ, huyện Y, có facebook là “Hậu Gầy”) về nhà của Đ tại xã K. Tại đây, Nguyễn Như Đ lấy chiếc túi đựng 01 khẩu súng và 04 viên đạn rồi cùng H1 đến ra khách sạn S1 mục đích chờ gặp Quang A giải quyết mâu thuẫn. Khi đến khách sạn S1, Nguyễn Như Đ và H1 chờ Quang A nhưng không gặp nên Nguyễn Như Đ và H1 nghỉ qua đêm tại phòng 215.
Đến khoảng 13 giờ ngày 06/05/2023, do phòng 215 bẩn nên Nguyễn Như Đ thuê phòng 678 và cùng H1 chuyển phòng. Trước khi chuyển sang phòng 678, Nguyễn Như Đ lấy túi đựng súng đạn nhờ H1 cầm rồi cả hai đi sang phòng 678. Trên đường sang phòng 678, Nguyễn Như Đ và H1 gặp H2 (người Đồng Thành, bạn của H1) nên cả Nguyễn Như Đ, H1 và H2 cùng sang phòng 678.
Khi vào phòng 678, Nguyễn Như Đ lấy túi đựng súng đạn từ H1 và đưa ra sau hành lang, ngay sát phòng 678 để cất dấu. H2 vào phòng 678 chơi một lúc thì đi về. Đến 18 giờ 30 cùng ngày, Nguyễn Như Đ về nhà ăn cơm cùng gia đình, còn H1 đi đâu không rõ (túi đựng súng, đạn vẫn để tại hành lang sau phòng 678).
Sau khi về ăn tối cùng gia đình xong, khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Như Đ và vợ là Nguyễn Thị H bắt taxi từ nhà vào thành phố V để gặp bạn tên là T (người Nghi Lộc hiện ở thành phố Hồ Chí Minh là bạn của Đ từ hồi làm ăn ở miền N). Khi vào thành phố V, Nguyễn Như Đ và H gặp T tại một quán Bar. Tại đây, Nguyễn Như Đ và H được T mời sử dụng ma túy ketamin. Sau khi sử dụng ketamin, Nguyễn Như Đ, Nguyễn Thị H và T tiếp tục ngồi nghe nhạc đến khoảng 00 giờ ngày 07/05/2023 thì Nguyễn Như Đ cùng H đón taxi về Y vào khách sạn S1 thuê phòng 214 để nghỉ.
Khoảng hơn 07 giờ, ngày 07/5/2023, Nguyễn Như Đ ngủ dậy và đi xuống tầng 1 để ăn sáng nhưng do đang “phê” ma túy nên đã đi vào phòng 678. Khi đến phòng 678, cửa không đóng nên Nguyễn Như Đ đi vào nằm lên giường. Ngay sau đó Nguyễn Thị H và Nguyễn Đào S cũng vào phòng 678. Đến 7 giờ 55 phút cùng ngày công an huyện Y vào phòng 678 kiểm tra phát hiện trong phòng có một số vật dụng gồm chai nước bị đục lỗ, tiền giấy cuộn tròn, giấy bạc, túi nilong, phát hiện thu giữ ngoài hành lang sau phòng 678 một túi vải màu đen chứa 01 khẩu súng và 04 viên đạn (nghi là vũ khí quân dụng).
Quá trình điều tra, Nguyễn Như Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án. Ngoài ra, Nguyễn Như Đ, Nguyễn Thị H và Nguyễn Đào S đều khai không sử dụng ma túy tại khách sạn S1, không biết các vật dụng (chai nước bị đục lỗ, tiền giấy cuộn tròn, giấy bạc, túi nilong) thu trong phòng 678 là của ai. (BL 147-204).
Kết luận giám định số 09/KL-KTHS(Đ3-SĐ) ngày 09/05/2023 của Phòng K Công an tỉnh N:
“Khẩu súng có ký hiệu “SMITH&WESSON, MADE IN CHINA” thu giữ của Nguyễn Như Đ gửi đến giám định là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6x15,5mm – thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại súng còn sử dụng để bắn được”; 04 (bốn) viên đạn dưới đáy có ký hiệu “C” thu giữ của Nguyễn Như Đ gửi đến giám định là đạn cỡ 5,6x15,5mm thuộc vũ khí thể thao. Loại đạn này sử dụng được cho khẩu súng thu giữ của Nguyễn Như Đ gửi đến giám định”.
Về thu giữ, xử lý vật chứng vụ án:
- 01 (một) khẩu súng quân dụng và 04 (bốn) viên đạn thể thao hiện đang bảo quản tại kho K70 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N;
- Chai nước bị đục lỗ, giấy bạc, túi nilong và 01 (một) túi xách màu đen. Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 Việt Nam đồng (đã một đầu bị than hóa). Hiện đang được gửi bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh N.
Bản Cáo trạng số 195/CT-VKSNA-P2, ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Như Đ về “Tội tàng trái phép vũ khí quân dụng” được quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 304 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Như Đ 05 năm tù đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2023 đến ngày 23/9/2023.
Đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có ý kiến tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 304 với tình tiết tái phạm nguy hiểm là không đúng, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Như Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai, trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 12 năm 2022, Nguyễn Như Đ đặt mua trên mạng xã hội Facebook (không nhớ rõ tài khoản người bán) 01 khẩu súng ký hiệu “SMITH&WESSON, MADE IN CHINA” bắn đạn cỡ 5.6x15,5mm thuộc vũ khí quân dụng với giá 15.000.000đ rồi bỏ trong 01 túi vải cất dấu ở bụi cây gần nhà ở xóm V, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Ngày 06/5/2023, Đ lấy chiếc túi vải màu đen đựng khẩu súng rồi đến thuê phòng 678 Khách Sạn S, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Như Đ đưa khẩu súng ra hành lang sau phòng 678 để cất dấu, đến khoảng 07 giờ 55 phút ngày 07/5/2023 lực lượng công an huyện Y kiểm tra, phát hiện và thu giữ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Như Đ đã phạm tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 304 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Như Đ là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách quản lý vũ khí quân dụng của nhà nước, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm chưa được xoá án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 304 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận ý kiến của bị cáo cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 304 với tình tiết tái phạm nguy hiểm là không đúng. Do đó, cần xét xử nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; được công an xã T, huyện K, tỉnh Nghệ An tặng Giấy khen trong công tác hỗ trợ bà con bị ảnh hưởng bởi lũ quét, có ông bà ngoại được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng pháp luật đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ chai nước bị đục lỗ, giấy bạc, túi nilong và 01 (Một) túi xách màu đen không có giá trị sử dụng cần tiêu hủy; 01 (một) khẩu súng quân dụng và 04 (bốn) viên đạn thể thao hiện, vật chứng này được quản lý theo quy định quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, do đó giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo thẩm quyền; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 Việt Nam đồng (Một đầu bị than hóa) cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
[7] Án phí: Bị cáo Nguyễn Như Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đối với người đã bán súng đạn cho Nguyễn Như Đ: Do Đ đặt mua trên facebook nhưng không nhớ tài khoản facebook đó, trong khi tài khoản facebook của bị can hiện không còn hoạt động nên không có cơ sở để xác minh, làm rõ xử lý.
Đối với người tên H1 (đã cầm túi đựng súng đạn vào phòng 678): Quá trình điều tra, Nguyễn Như Đ khai không nói cho H1 biết về việc trong túi có súng, đạn. Mặt khác, qua xác minh tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An không có đối tượng nào tên H1 có đặc điểm như Nguyễn Như Đ khai. Do đó không có cơ sở để xác minh, làm rõ.
Đối với Nguyễn Đào S và Nguyễn Thị H: Quá trình điều tra, S và H khai không biết gì về số súng đạn thu giữ tại phòng 678 Khách sạn S1. Cơ quan điều tra cũng không thu thập được tài liệu, chứng cứ chứng minh để buộc tội đối với S và H, vì vậy không đủ căn cứ để đề nghị xử lý.
Đối với đối tượng T (mời Đ và H sử dụng ketamin): Do Đ khai không biết rõ thông tin, lai lịch, nhân thân cụ thể nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.
Đối với các vật nghi là để sử dụng chất ma túy thu giữ trong phòng 678: Nguyễn Như Đ, Nguyễn Thị H và Nguyễn Đào S đều khai không sử dụng ma túy tại phòng 678; kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy của 03 đối tượng cho kết quả dương tính với các loại ma túy khác nhau do trước đó sử dụng chất ma túy; ba đối tượng đều không biết các vật dụng này là của ai. Do đó không đủ cơ sở kết luận các đối tượng này tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 678 Khách sạn S1.
Đối với hành vi tàng trữ 04 viên đạn (thuộc vũ khí thể thao) của Nguyễn Như Đ vi phạm quy định tại điểm a, khoản 5, điều 11, nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, Cơ quan An ninh điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Như Đ 05 (Năm) năm tù về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2023 đến ngày 23/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Như Đ.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo thẩm quyền 01 (Một) khẩu súng quân dụng và 04 (Bốn) viên đạn thể thao hiện đang bảo quản tại kho K70 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An.
- - Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 Việt Nam đồng (một đầu đã bị than hóa).
- - Tịch thu tiêu huỷ: Chai nước bị đục lỗ, giấy bạc, túi nilong và 01 (một) túi xách màu đen.
Đặc điểm vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2023, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Như Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ vũ khí quân dụng
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Tàng trữ vũ khí quân dụng”
