Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-PT

Ngày 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán: Ông Vũ Quang Trung
Ông Nguyễn Quang Kiên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 83/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1997 tại Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn N, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Đỗ Thị M1; có vợ là Phạm Thu H1 và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bắt tạm giữ ngày 26/12/2023, chuyển tạm giam ngày 29/12/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/10/2022, Công an tỉnh H tiến hành điều tra vụ án Mua bán trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Minh H2. Quá trình điều tra H2 khai có 01 tài khoản số 9313888386 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (viết tắt là T) Chi nhánh H4, bên trong tài khoản có 41.000.000 đồng, gồm 11.000.000 đồng là tiền Hoài giao dịch mua bán ma túy, 30.000.000 đồng là tiền do H2 lao động mà có. Ngày 13/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H áp dụng Lệnh phong tỏa đối với tài khoản 9313888386 Ngân hàng T mang tên Nguyễn Minh H2. Quá trình điều tra xác định, ngày 12/12/2022 có người mạo danh và mang căn cước công dân mang tên Nguyễn Minh H2 đến T chi nhánh H5 - Phòng G rút số tiền 41.000.000 đồng, vì vậy tại thời điểm phong tỏa, tài khoản của H2 không có tiền. Ngày 06/4/2023, Nguyễn Minh H2 đã làm đơn đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đề nghị làm rõ xác minh đối tượng đã mạo danh chiếm đoạt số tiền trên.

Ngày 04/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra vào ngày 12/12/2022 tại T - Chi nhánh V, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N điều tra theo thẩm quyền. Ngày 08/8/2023, T có đơn gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N trình báo về việc có dấu hiệu lừa đảo xảy ra tại T - Chi nhánh V, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng.

Ngày 07/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N đã ra Quyết định truy nã số 11/QĐTN đối với Nguyễn Văn H. Ngày 26/12/2023, Nguyễn Văn H đã đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận:

Ngày 11/12/2022, Nguyễn Văn H đến nhà trọ số B đường N thuộc tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên của em trai là Nguyễn Minh H2 lấy quần áo cho H2. Tại đây, H thấy 01 thẻ căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 17/6/2022 mang tên Nguyễn Minh H2 nên đã cầm cất giữ cho H2.

Khoảng 15 giờ ngày 12/12/2022, biết H2 có tài khoản tại T nhưng không biết trong tài khoản có tiền hay không nên H mang căn cước công dân của H2 đến T - Chi nhánh V, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng mạo danh H2 yêu cầu sao kê tài khoản. Giao dịch viên của ngân hàng là chị Hồ Khánh H3 yêu cầu H xuất trình căn cước công dân, bỏ khẩu trang để đối chiếu khuôn mặt và đưa cho H một tờ Giấy đề nghị cung cấp thông tin khách hàng, yêu cầu H ký tên vào mục “Chủ tài khoản”. Do biết chữ ký của H2 nên H đã ký giả chữ “Hoài” và ghi rõ họ tên “Nguyễn Minh H2” vào tờ khai. Sau khi kiểm tra thấy chữ H ký với mẫu chữ ký của H2 ký lưu trên hệ thống giống nhau nên chị H3 tiến hành sao kê tài khoản của H2, kết quả trong tài khoản có 41.000.000 đồng. Biết trong tài khoản của H2 có 41.000.000 đồng, H yêu cầu chị H3 cho rút toàn bộ số tiền trên. Do tin tưởng người đang giao dịch là Nguyễn Minh H2, chị H3 đã thực hiện theo quy trình rút 41.000.000 đồng trong tài khoản của H2 đưa cho H. H đã ký giả chữ “H2” và ghi rõ họ tên “Nguyễn Minh H2” tại mục “CTK/NDDHP của CTK” và “Người lĩnh tiền” trên Giấy lĩnh tiền kiêm bảng kê – Việt Nam đồng.

Sau khi lấy được tiền, H đến cây ATM của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Viết tắt là M2) trên đường V số tiền 41.000.000 đồng vào tài khoản M2 số 1388888456789 mang tên Nguyễn Văn H của mình. Đến khoảng 01 giờ ngày 13/12/2022, H chuyển số tiền 83.000.000 đồng từ tài khoản tại M2 đến tài khoản T số 19031661109010 mang tên Phạm Thu H1 là vợ của H và nhắn tin cho chị H1 chuyển kèm theo nội dung “Vợ chuyển cho bố 80 triệu, giữ lại 3 triệu” mục đích để chị H1 gửi cho ông Nguyễn Văn M là bố đẻ của H 80.000.000 đồng, trong đó có 41.000.000 đồng rút từ tài khoản của H2 để ông M thăm nuôi H2 trong trại. Sau đó, chị H1 đã chuyển 80.000.000 đồng cho ông M còn H vào Thành phố Hồ Chí Minh làm việc.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N thu giữ: 01 Thẻ căn cước công dân ghi số [...] cấp ngày 17/06/2022 mang tên Nguyễn Minh H2 và số tiền 41.000.000 đồng do H tác động gia đình giao nộp để khắc phục hậu quả ngày 22/02/2024.

Tại bản Kết luận giám định số 4330/KL-KTHS ngày 05/7/2023 của V1 - Bộ C kết luận: Chữ ký, chữ viết dưới các mục “CTK/NDDHP của CTK” và “Người lĩnh tiền” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với mẫu chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 (Phiếu thu thập thông tin căn cước công dân, số thẻ [...] đề ngày 08/6/2022; Đề nghị kiêm hợp đồng sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán, thẻ, MB điện tử đề ngày 03/6/2021 gồm 3 tờ; Tờ khai đăng ký kết hôn của Nguyễn Văn H khai tại Ủy ban nhân dân xã C ngày 10/11/2018; Sổ đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã C lưu trữ, quyển số 02 mở ngày 01/9/2017, khóa ngày 28/12/2018 có chữ viết của Nguyễn Văn H dưới mục “Chồng” tại trang 103) do cùng một người ký, viết ra.

Tại bản Kết luận giám định số 79/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Căn cước công dân số [...] cấp ngày 17/06/2022 mang tên Nguyễn Minh H2 gửi giám định là thật.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2023.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/5/2024, bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị. Kháng cáo bị cáo Nguyễn Văn H trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 12/12/2022, Nguyễn Văn H đã dùng thủ đoạn gian dối là lấy thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Minh H2 đến T - Chi nhánh V, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng giả danh là Nguyễn Minh H2, ký giả chữ ký “Hoài” và ghi họ tên “Nguyễn Minh H2” trên Giấy lĩnh tiền kiêm bảng kê - VNĐ chiếm đoạt số tiền 41.000.000 đồng trong tài khoản số 9313888386 của chủ sở hữu Nguyễn Minh H2 do Ngân hàng T quản lý. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

*Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu chứng cứ mới: Bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được tặng kỷ niệm chương vì đã có thành tích tham gia chiến đấu tại mặt trận Đường I Quảng Trị - B5 và xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo là lao động duy nhất trong gia dình để được giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, giảm một phần hình phạt tù cho bị cáo. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

[3] Bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, đã tác động gia đình khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo cung cấp tài liệu chứng cứ mới: Bị cáo Nguyễn Văn H có ông nội là người có công với cách mạng được tặng kỷ niệm chương vì đã có thành tích tham gia chiến đấu tại mặt trận Đường I Quảng Trị - B5 và xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình để được giảm nhẹ hình phạt. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng; sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, giảm 06 tháng tù cho bị cáo.
  2. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2023.
  4. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND Quận Ngô Quyền;
  • - PV06 Công an TPHP;
  • - Cơ quan CSĐT Quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan THAHS Quận Ngô Quyền;
  • - TAND Quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-PT ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 103/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự phúc thẩm xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do có kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger