Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HC-ST
Ngày: 24-7-2024
V/v khiếu kiện quyết định
hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Vĩnh Kỳ

Bà Thanh Thị Minh Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2024/TLST-HC ngày 12 tháng 4 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HC ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện:

  • + Ông Khoa Thanh T, sinh năm 1986; Địa chỉ: A V, phường Đ, Quận N, Thành phố Hải Phòng.
  • + Bà Nguyễn Thị Cẩm C, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Thanh T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: A N, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết
  2. Ủy ban nhân dân thành phố P

Tại phiên toà, có mặt ông Trần Thanh T1. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ1, Ủy ban nhân dân P có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Khoa Thanh T, bà Nguyễn Thị Cẩm C và người đại diện theo ủy quyền ông Trần Thanh T1 trình bày:

Ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Hoàng Q, bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Quốc B, bà Nguyễn Thị Thảo U theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 14859, quyền số: 15/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/12/2022 tại Văn phòng C1 đối với thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4m², đất ở nông thôn, tại thôn T, xã T, thành phố P đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 972872; CQ 972873, cấp ngày 02/8/2019.

Ngày 19/3/2024, ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C có nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 số Biên nhận 2024-4593/TNHS;

Ngày 25/3/2024, ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C nhận được Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C.

Theo quy định của pháp luật thì hồ sơ nhận chuyển nhượng của ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C từ ông Nguyễn Hoàng Q, bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Quốc B, bà Nguyễn Thị Thảo U, thửa đất nhận chuyển nhượng hoàn toàn hợp pháp, không bị tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án và còn trong thời hạn sử dụng đất. Đồng thời, tôi đã thanh toán đầy dù số tiền 2.450.000.000 đồng (hai tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng) cho các ông Nguyễn Hoàng Q, bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Quốc B1, bà Nguyễn Thị Thảo U.

Vì vậy, việc Chi nhánh văn phòng Đ1 hoàn trả hồ sơ là trái quy định của pháp luật.

Đáng chú ý, đối chiếu với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của thành phố P thì thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4m², đất ở nông thôn, tại thôn T, xã T, thành phố P thuộc quy hoạch là đất ở nông thôn. Xét thấy, quyền và lợi ích của mình bị ảnh hưởng nên đề nghị Tòa án tuyên:

- Hủy Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 25/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1.

- Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ1 và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.

Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại Văn bản số 1599/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 27/5/2024 như sau:

Đối với vụ khiếu kiện trên, Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã có Văn bản số 4566/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 21/5/2024 cung cấp ý kiến và toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho Tòa án. Văn phòng đăng ký đất đai không có hồ sơ, tài liệu nào khác ngoài hồ sơ, tài liệu mà Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã cung cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1 có ý kiến tại Văn bản số 4566/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 21/5/2024 như sau:

Ngày 19/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ1 có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Khoa Thanh T và ông K thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C tại biên nhận số 2024-4593/TNHS.

Ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Hoàng Q cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Quốc B cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thảo U đối với thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4 m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thừa đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 972872 và CQ 972873 cùng do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/8/2019.

Qua kiểm tra hồ sơ thì thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 972872 và CQ 972873 cùng do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/8/2019 có lịch sử biến động như sau:

  • - Ngày 14/6/2018, ông Hồ Văn Đ được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 250223 đối với thửa đất số 1155, tờ bản đồ số 9, diện tích 1329,3 m² đất trồng cây lâu năm.
  • - Ngày 19/7/2018, ông Hồ Văn Đ được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất 1085,9m² sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 và được cấp đổi thành thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4 m² đất ở tại nông thôn theo Giấy chứng nhận số CO 667123 do UBND thành phố P cấp ngày 10/9/2018 và thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, diện tích 742,9m² gồm 499,5 m² đất ở tại nông thôn và 243,4m² đất trồng cây lâu năm theo Giấy chứng nhận số CO 667122 do UBND thành phố P cấp ngày 9/10/2018.
  • - Ông Hồ Văn Đ chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4 m² đất ở tại nông thôn theo Giấy chứng nhận số CO 667123 do UBND thành phố P cấp ngày 10/9/2018 và được cập nhật biến động vào ngày 15/3/2019.
  • Bà Nguyễn Thị Hoàng Y chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quốc B và bà Nguyễn Thị Thanh H (đồng sử dụng) thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4 m² đất ở tại nông thôn theo Giấy chứng nhận số CO 667123 do UBND thành phố P cấp ngày 10/9/2018 và được cấp đổi thành Giấy chứng nhận số CQ 972872 và CQ 972873 cùng do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/8/2019.

Qua rà soát thì thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 972872 và CQ 972873 cùng do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/8/2019 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép ông Hồ Văn Đ được chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất (quy hoạch là đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: "...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T."

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.

Chi nhánh Văn phòng hiện vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 25/3/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố P không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C:

  • + Hủy Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 25/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông K thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C.
  • + Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ1 thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.
  • + Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B chịu án phí theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ1, Ủy ban nhân dân thành phố P nhưng tất cả đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 157, Điều 158 và Điều 168 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên là đúng quy định.

[2] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 25/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông K thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C; Xét thấy Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 25/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 có nội dung dừng giải quyết và trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông T, bà C, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự nên được xác định là quyết định hành chính bị kiện. Như vậy đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì khiếu kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 25/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ1 ban hành Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT. Ngày 28/3/2024, ông T, bà C khởi kiện đối với thông báo trên là còn thời hiệu theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông K thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 972872 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/8/2019 cho ông Nguyễn Quốc B, bà Nguyễn Thị Thanh H. Ngày 28/12/2022, ông Nguyễn Quốc B cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thảo U, bà Nguyễn Thị Thanh H cùng chồng là Nguyễn Hoàng Q đã ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho vợ chồng ông T, bà C. Việc chuyển nhượng được các bên thực hiện đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, ông T, bà C đã kê khai đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 để thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động thửa đất nêu trên. Ngày 25/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ1 ban hành Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc thông báo hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông T, bà C, trong đó có nội dung tạm ngưng việc giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên với lý do có một phần diện tích đất được phép chuyển mục đích sử dụng đất tại Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 của ông bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Xét thấy, trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính về cấp mới, cấp đổi và chuyển quyền sử dụng đất thì ngày 20/7/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã ban hành Văn bản số 4046/CNVPĐKĐĐPT báo cáo về sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở trên địa bàn thành phố P không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B, kèm theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 nhưng đến nay Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn không có ý kiến về việc xử lý các sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở mà Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã kiến nghị.

Theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, quy định về đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp như sau:

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

  • Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;
  • Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

2. Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

  • Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;
  • Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;
  • Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
  • Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

- Khoản 1 Điều 167 và khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai, quy định:

Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất,... khi có giấy chứng nhận...; Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.

- Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai, quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

  • Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
  • Đất không có tranh chấp;
  • Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
  • Trong thời hạn sử dụng đất.

- Khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014 như sau:

  • Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì kiểm tra lại, thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do và quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định;
  • Trường hợp người sử dụng đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì gửi kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm kiểm tra, xem xét quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai.

Căn cứ vào các quy định pháp luật viện dẫn nêu trên, thấy rằng:

Ông T, bà C thực hiện quyền nhận chuyển nhượng thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4m² đất ở nông thôn nêu trên là đúng quy định tại khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, điểm b khoản 1 Điều 169, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Hơn nữa, việc nhận chuyển nhượng thừa đất nêu trên không làm thay đổi hiện trạng, diện tích, mục đích sử dụng đất. Do đó, việc Chi nhánh Văn phòng Đ1 là cơ quan trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B không thực hiện thủ tục hành chính giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng thừa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4m² đất ở nông thôn của vợ chồng ông T, bà C là trái quy định pháp luật. Đồng thời, ban hành Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 25/3/2024 về việc thông báo về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông T, bà C là không có căn cứ pháp luật và đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của những người nhận chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên nên cần tuyên hủy là phù hợp.

Từ nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông K thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, Điều 157, 158, 168, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
  • Khoản 7 Điều 22, điểm c khoản 1 Điều 99, Điều 106, khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai; Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
  • Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông K thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C.

  • - Hủy Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 25/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1.
  • - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ1 thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

2/ Về án phí hành chính sơ thẩm:

Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000227 ngày 09/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh B. Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP, THC;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HC-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 103/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Hoàng Q, bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Quốc B, bà Nguyễn Thị Thảo U theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 14859, quyền số: 15/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/12/2022 tại Văn phòng C1 đối với thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4m², đất ở nông thôn, tại thôn T, xã T, thành phố P đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 972872; CQ 972873, cấp ngày 02/8/2019. Ngày 19/3/2024, ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C có nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 số Biên nhận 2024-4593/TNHS; Ngày 25/3/2024, ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C nhận được Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C. Theo quy định của pháp luật thì hồ sơ nhận chuyển nhượng của ông Khoa Thanh T và bà Nguyễn Thị Cẩm C từ ông Nguyễn Hoàng Q, bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Quốc B, bà Nguyễn Thị Thảo U, thửa đất nhận chuyển nhượng hoàn toàn hợp pháp, không bị tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành ản và còn trong thời hạn sử dụng đất. Đồng thời, tôi đã thanh toán đầy dù số tiền 2.450.000.000 đồng (hai tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng) cho các ông Nguyễn Hoàng Q, bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Quốc B1, bà Nguyễn Thị Thảo U. Vì vậy, việc Chi nhánh văn phòng Đ1 hoàn trả hồ sơ là trái quy định của pháp luật. Đáng chú ý, đối chiếu với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của thành phố P thì thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 9, diện tích 586,4m², đất ở nông thôn, tại thôn T, xã T, thành phố P thuộc quy hoạch là đất ở nông thôn. Xét thấy, quyền và lợi ích của mình bị ảnh hưởng nên đề nghị Tòa án tuyên: - Hủy Thông báo số 420/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 25/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1. - Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ1 và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger