|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 103/2024/DSPT Ngày: 16/9/2024 V/v: “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nam; Ông Đỗ Thế Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2024/TLPT-DS ngày 05/8/2024 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 134/2024/QĐ-PT, ngày 07/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà S: Ông Phạm Tuấn A, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Vinh H, sinh năm 1982 (có mặt); Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1981 (vắng mặt); Cùng địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Vũ Văn X, sinh năm 1979; Nơi thường trú: P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt); Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 2001; Nơi thường trú: T, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt); Ông Trần Tuấ L, sinh năm 1999; Nơi thường trú: Khu B, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt); Bà Hoàng Thúy H1, sinh năm 1993; Nơi thường trú: Khu K, phường V, thành phố B, tinh B (vắng mặt); Cùng địa chỉ liên hệ: Số A dường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Xuân H2, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H2: Ông Phạm Tuấn A, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
Người kháng cáo: ông Nguyễn Vinh H, bà Hoàng Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Xuân H2 trình bày:
Anh chị có mối quan hệ quen biết với anh Nguyễn Vinh H và chị Hoàng Thị T. Anh H, chị T làm kinh doanh đồ gỗ nên cần vốn kinh doanh, do đó có hỏi vay chị tiền để kinh doanh. Vì là chỗ quen biết nên vợ chồng chị có cho vợ chồng anh H, chị T vay tiền làm 05 lần cụ thể: Ngày 25/3/2023 vợ chồng H, T vay 5.500.000.000đ; ngày 30/3/2023 vợ chồng Huy T1 vay 400.000.000đ; ngày 26/4/2023 vợ chồng H, T1 vay 1.000.000.000đ; ngày 10/6/2023 vợ chồng H, T1 vay 697.000.000đ. Toàn bộ 05 giấy vay tiền này đều do chị Hoàng Thị T ký nhận. Tiền lãi được hai bên thỏa thuận 1%/tháng. Từ khi vay tiền của vợ chồng chị cho đến nay vợ chồng H, T chưa trả được cho chị khoản tiền gốc và lãi nào.
Việc vợ chồng Huy T1 nói đã trả được cho chị số tiền nợ gốc là 9.226.000.000đ là không có căn cứ. Chị cũng không nhận gán nợ của vợ chồng Huy T1 bất cứ thửa đất nào. Đến nay, chị đề nghị Tòa án buộc vợ chồng H, T1 có nghĩa vụ trả chị toàn bộ số nợ gốc là 17.947.000.000đ và số tiền lãi tạm tính tới ngày 17/01/2024 là 1.149.800.000đ.
Bị đơn là anh Nguyễn Vinh H và chị Hoàng Thị T trình bày: Vợ chồng anh chị có quan hệ quen biết với chị Nguyễn Thị S và biết chị S có cho vay tiền. Do có nhu cầu về tiền để làm ăn kinh doanh nên vợ chồng anh chị có vay của chị S 05 lần vay tiền gồm: Ngày 25/3/2023 vay 5.500.000.000 đồng; ngày 30/3/2023 vay 400.000.000đ; ngày 26/4/2023 vay 6.750.000.000đ; ngày 04/5/2023 vay 1.000.000.000đ; ngày 10/6/2023 vay 697.000.000đ. Toàn bộ 05 giấy vay tiền do chị T ký nhận. Từ khi vay tiền của chị S cho đến nay vợ chồng anh chị đã thanh toán cho chị S tổng số tiền 9.226.000.000đ. Ngoài ra vợ chồng anh chị còn gán nợ cho chị S 03 mảnh đất với tổng số tiền là 5.050.000.000đ. Đến nay vợ chồng anh chị xác nhận còn nợ chị S tổng số tiền là 3.671.000.000đ. Do điều kiện làm ăn kinh tế thua lỗ nên đến nay anh chị chưa trả được cho chị S số tiền còn nợ. Nay chị S yêu cầu vợ chồng anh chị phải trả 17.947.000.000đ và số tiền lãi 1.149.800.000đ, vợ chồng anh chị không đồng ý, vợ chồng anh chị xác nhận chỉ còn nợ chị S số tiền 3.671.000.000đ. Ngoài ra anh chị cũng xin chị S toàn bộ số tiền lãi.
Với nội dung trên, bản án sơ thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 235 BLTTDS 2015; các Điều 357, 463, 466, 468, 470 BLDS 2015; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-
HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với anh Nguyễn Vinh H và chị Hoàng Thị T: Buộc anh Nguyễn Vinh H, chị Hoàng Thị T có trách nhiệm liên đới trả cho chị S số tiền 20.340.733.000đ, trong đó nợ gốc là 17.947.000.000đ, nợ lãi 2.393.733.000đ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/10/2023, anh Nguyễn Vinh H và chị Hoàng Thị T kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn; bị đơn đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm do Tòa án nhân dân huyên Lương Tài xét xử vì có những vi phạm trong việc thu thập tài liệu chứng cứ không khách quan, hơn nữa phía bị đơn đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, đồng thời đã trả được cho nguyên đơn hơn 3 tỷ đồng, đề nghị hội đồng xét xử xem xét; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng giữa nguyên đơn và bị đơn không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đả trả hơn 3 tỷ đồng, nếu có việc chuyển nhượng và trả tiền đề nghị phía bị đơn cung cấp hợp đồng chuyển nhượng và chứng cứ cho việc trả tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử; Bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Vinh H và chị Hoàng Thị T nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Chị Nguyễn Thị S và vợ chồng anh Nguyễn Vinh H, chị Hoàng Thị T có mối quan hệ quen biết. Do anh H, chị T có nhu cầu vay tiền để làm ăn kinh doanh nên có vay của chị S 05 lần cụ thể: Ngày 25/3/2023 vợ chồng H, T vay 5.500.000.000đ; ngày 30/3/2023 vợ chồng Huy T1 vay 400.000.000đ; ngày 26/4/2023 vợ chồng H, T1 vay 1.000.000.000đ; ngày 10/6/2023 vợ chồng H, T1 vay 697.000.000đ. Khi vay hai bên có lập 05 giấy vay tiền với lãi suất 1%/tháng. Theo phía nguyên đơn trình bày từ khi vay tiền đến nay vợ chồng anh H, chị T1 chưa trả cho chị S tiền gốc và tiền lãi, do đó chị S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh H, chị T1 trả cho chị tổng số tiền gốc là 17.947.000.000 đồng và số tiền lãi tính đến ngày 17/01/2024 là 1.149.800.000 đồng.
Bản án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng anh Nguyễn Vinh H, chị Hoàng Thị T có trách nhiệm liên đới trả cho chị S số tiền là 20.340.733.000đ, trong đó nợ gốc là 17.947.000.000đ, nợ lãi 2.393.733.000đ.
Sau khi bản án dân sự sơ thẩm xử, anh Nguyễn Vinh H, chị Hoàng Thị T kháng cáo toàn bộ bản án. Xét kháng cáo của anh H, chị T thì thấy:
Thứ nhất, anh H, chị T đều xác nhận do cần tiền làm ăn kinh doanh nên có vay của chị S tổng số tiền là 17.947.000.000đ, mỗi lần vay hai bên đều viết giấy biên nhận có chữ ký của người vay tiền là chị T và người cho vay là chị S. Tuy nhiên anh H, chị T cho rằng đã thanh toán cho chị S được 9.226.000.000 đồng, để chứng minh cho việc này phía anh H, chị T đã cung cấp 01 bản kê khai danh sách chuyển tiền cho anh H2, chị S từ tháng 9/2022, tuy nhiên đó là tài liệu mà chính phía bị đơn là anh H, chị T tự đánh máy và in ra, không có xác nhận của ngân hàng chuyển tiền cũng như không có xác nhận của phía chị S, anh H2. Ngoài ra anh H, chị T còn cho rằng anh chị đã chuyển nhượng cho chồng chị S là anh H2 03 thửa đất với tổng giá trị là 5.050.000.000đ để khấu trừ cho các khoản nợ vay trước đó. Căn cứ vào các hợp đồng chuyển nhượng mà phía bị đơn giao nộp thể hiện: 01 hợp đồng chuyển nhượng giữa anh H, chị T với ông Trần Văn T2, bà Nguyễn Thị H3 với số tiền là 200.000.000 đồng; 01 hợp đồng chuyển nhượng giữa anh H, chị T với ông Trần Xuân H2 với số tiền 150.000.000 đồng; 01 hợp đồng chuyển nhượng giữa anh H, chị T với ông Trần Xuân H2 với số tiền 80.000.000 đồng. Như vậy giá trị của 03 hợp đồng này không có giá trị như anh H, chị T trình bày cũng như phía chị S không xác nhận việc anh H, chị T gán nợ cho chồng chị là anh H2.
Như vậy có thể thấy bản án sơ thẩm buộc anh H, chị T phải trả cho chị S số nợ gốc là 17.947.000.000 đồng đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, về lãi suất, tại 05 giấy vay tiền đều thể hiện lãi suất là 1%/tháng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 468 BLDS 2015 quy định đối với trường hợp các bên có thỏa thuận lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm, do đó chị S yêu cầu lãi suất 1%/tháng là phù hợp và bản án sơ thẩm buộc anh H, chị T phải trả cho chị S tính đến ngày xét xử sơ thẩm 22/5/2024 số tiền lãi 2.393.733.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.
Từ phân tích trên có thể thấy anh H, chị T kháng cáo toàn bộ bản án nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới nên kháng cáo của anh H, chị T không có căn cứ chấp nhận do đó cần bác toàn bộ kháng cáo của anh H, chị T. Tuy nhiên, trong phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên lãi suất chậm trả không theo hướng dẫn tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao, do đó, cần sửa bản án dân sự sơ thẩm về phần tuyên lãi chậm trả, cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[3] Về án phí: Anh Nguyễn Vinh H, chị Hoàng Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Vinh H, chị Hoàng Thị T, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài về cách tuyên phần lãi suất chậm trả.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Vinh H và chị Hoàng Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại anh H, chị T mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm tại biên lai số 0003092 và 0003093 ngày 06/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Tài.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 103/2024/DSPT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 103/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Sen, sinh năm 1979; Bị đơn: Ông Nguyễn Vinh Huy, sinh năm 1982; Bà Hoàng Thị Thịnh, sinh năm 1981
