|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 103/2023/HS-ST. Ngày: 26 - 10 - 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC,
TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Danh Tuất
Bà Ngô Thị Quốc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh T- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Yến N, sinh năm: 1994 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. HKTT: Ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Nuôi thủy sản; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn D, sinh năm: 1968 và bà Trần Thị Kim C, sinh năm: 1970; chồng con: Không.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/6/2023, chuyển tạm giam ngày 26/4/2023 theo Lệnh tạm giam số 105/LTG ngày 24/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị Kim Ánh T1, sinh năm: 1974 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người làm chứng:
Ông Hà S, sinh năm: 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 15/6/2023 lực lượng Đồn Biên phòng B tuần tra trên địa bàn, khi đến khu vực thuộc tổ D, ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thấy Nguyễn Thị Yến N chạy xe mô tô màu đỏ, nhãn hiệu Honda Wave, biển số 72G1-52743 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng lại kiểm tra. Lúc này, N tự giao nộp 01 bao thuốc lá, bên trong có 01 gói nylon chứa chất kết tinh, không màu - trong suốt và 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu vàng nhạt, hình mặt mèo, đồng thời khai nhận chất kết tinh, không màu - trong suốt là ma túy khay và 03 viên nén màu vàng nhạt là ma túy dạng thuốc lắc. Lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tang vật theo quy định và đưa Nguyễn Thị Yến N về trụ sở làm việc.
Quá trình làm việc Nguyễn Thị Yến N khai: Khoảng 19 giờ 30 phút, N chạy xe xuống chợ B1 gặp một thanh niên tên T2 (không rõ lai lịch) hỏi mua 1.500.000 đồng ma tuý K và thuốc lắc mục đích mang về sử dụng dần. T2 đồng ý chạy đi lấy ma tuý, một lúc sau quay lại giao cho N 01 gói ma túy Khay và 03 viên thuốc lắc. Sau khi mua N cầm ma tuý chạy xe về nhà cất giấu, trên đường về thì bị lực lượng Đồn Biên phòng kiểm tra, phát hiện thu giữ.
Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Yến N khai nhận hành vi của mình như trên.
Tại Kết luận giám định số 276/KL-KTHS-MT ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Phòng K1 - CA tỉnh B kết luận:
- Một phong bì màu trắng (số thứ tự 01), có hình dấu của Đồn Biên phòng B Bộ CHBĐBP tỉnh B và hình dấu của Công an xã - – Công an huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thượng úy Vũ Văn T3, Hồ Thanh T4, Phạm Quang L, Nguyễn Thị Yến N, H, Nguyễn Đình T5, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (ký hiệu mẫu A1) gửi giám định có khối lượng 1,4018 gam, là chất ma túy, loại Ketamine;
- Một phong bì màu trắng (số thứ tự 02), có hình dấu và chữ ký như phong bì màu trắng số thứ tự 01, bên trong có 03 (ba) viên nén vàng nhạt, có hình dạng “mặt mèo” (ký hiệu mẫu A2) gửi giám định có khối lượng 1,4126 gam, là chất ma túy, loại MDMA.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 276/1 ngày 21 tháng 6 năm 2023, có in hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B-VT và các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H, Đỗ Thị Linh S1, Đỗ Đăng T6 và 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 276/2 ngày 21 tháng 6 năm 2023, có in hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B-VT và các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H, Đỗ Thị Linh S1, Đỗ Đăng T6, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định, hiện các vật chứng đang tạm giữ để chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện X chờ xử lý;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ - bạc, biển số: 72G1-527.43, số khung RLHJA3906HY113700, số máy: JA39E0113745, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Qua xác minh, xe mô tô trên của bà Trần Thị Kim Ánh T1 (là dì của N) đứng tên chủ sở hữu, bà T1 không biết N mượn xe đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra xử lý trả lại cho bà T1.
Cáo trạng số 99/CT-VKS-XM ngày 26/9/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo Nguyễn Thị Yến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Thị Yến N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội chỉ thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc công bố luận tội, phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Yến N. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Yến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
+ Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Yến N từ 14 tháng đến 16 tháng tù giam.
+ Về vật chứng: 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 276/1 ngày 21 tháng 6 năm 2023, có in hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B-VT và các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H, Đỗ Thị Linh S1, Đỗ Đăng T6 và 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 276/2 ngày 21 tháng 6 năm 2023, có in hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B-VT và các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H, Đỗ Thị Linh S1, Đỗ Đăng T6, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ - bạc, biển số: 72G1-527.43, số khung RLHJA3906HY113700, số máy: JA39E0113745, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, qua xác minh xe mô tô trên của bà Trần Thị Kim Ánh T1 (là dì của N) đứng tên chủ sở hữu, bà T1 không biết N mượn đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra xử lý trả lại cho bà T1 là phù hợp.
+ Đối với người tên T2 bán ma tuý cho N, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau. Ngoài ra, N khai trước đó ngày 05/6/2023 N còn mua của T2 1.000.000 đồng ma tuý mục đích để sử dụng và đã sử dụng hết nên không đủ cơ sở để xem xét xử lý.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Yến N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đã truy tố, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, Nguyễn Thị Yến N chạy xe mô tô màu đỏ - bạc, nhãn hiệu Honda Wave, biển số 72G1-527.43 đến chợ B1, huyện X gặp một người tên T2 (không rõ lai lịch) mua 1.500.000 đồng gồm 01 gói ma tuý có khối lượng 1,4018 gam, loại Ketamine và 03 viên ma tuý màu vàng nhạt, hình “mặt mèo” có khối lượng 1,4126 gam, loại MDMA mục đích mang về sử dụng dần. Sau khi mua, N cầm ma tuý chạy về đến khu vực ấp T, xã B, huyện X thì bị lực lượng Đồn Biên phòng B bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Căn cứ khoản 2, Điều 5, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, tính được tỷ lệ phần trăm về khối lượng của ma túy loại Ketamine là 7,009%, ma túy loại MDMA là 28,252%. Như vậy, tỷ lệ phần trăm về khối lượng 02 chất ma túy bị cáo tàng trữ là 35,261% (dưới 100%).
Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Yến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương, gây ra dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo N đã trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội khác. Do vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là cần thiết và phải được xem xét xử lý nghiêm bằng hình phạt tù mới tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra, cho bị cáo có thời gian sửa chữa sai lầm, cải tạo thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Tại phiên tòa, gia đình bị cáo N nộp bằng Tổ quốc ghi công của Liệt sĩ Nguyễn Văn V, theo bị cáo thì ông V là em ruột của bà ngoại N, nhận thấy theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS thì bị cáo N không có mối quan hệ cha, mẹ, con, cháu ruột với ông V nên không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ này.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 276/1 ngày 21 tháng 6 năm 2023, có in hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B và các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H, Đỗ Thị Linh S1, Đỗ Đăng T6 và 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 276/2 ngày 21 tháng 6 năm 2023, có in hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B và các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H, Đỗ Thị Linh S1, Đỗ Đăng T6, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ - bạc, biển số: 72G1-527.43, số khung RLHJA3906HY113700, số máy: JA39E0113745 của bà Trần Thị Kim Ánh T1 (là dì của N) đứng tên chủ sở hữu, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên bà T1 không biết N mượn đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra xử lý trả lại cho bà T1 là phù hợp (đã trả xong).
[6] Về các nội dung khác trong vụ án:
Đối với người tên T2 bán ma tuý cho N, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau. Về hành vi của N mua ma túy của T2 vào ngày 05/6/2023 là 1.000.000 đồng với mục đích để sử dụng và đã sử dụng hết nên không đủ cơ sở để xem xét xử lý hình sự.
[7] Về án phí HSST:
Bị cáo Nguyễn Thị Yến N phải nộp án phí không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Yến N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Yến N 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/6/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Thị Yến N.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 276/1 ngày 21 tháng 6 năm 2023 và 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 276/2 ngày 21 tháng 6 năm 2023, có in hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B và các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H, Đỗ Thị Linh S1, Đỗ Đăng T6, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định;
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 02/BB ngày 09/10/2023 giữa CQCSĐT Công an huyện X và Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thị Yến N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bành Thị Thu Hà |
Bản án số 103/2023/HS-ST ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 103/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ 01 gói ma tuý có khối lượng 1,4018 gam, loại Ketamine và 03 viên ma tuý màu vàng nhạt, hình “mặt mèo” có khối lượng 1,4126 gam, loại MDMA mục đích sử dụng dần
