Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2022/HS-ST

Ngày 27-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đắc Hân

Ông Hoàng Đức Cảnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải

Phòng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Lương Ngọc B ngày 14 tháng 12 năm 1986 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Ngọc D và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nông Thị L và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2006/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2006, Tòa án nhân dân huyện T2, thành phố Hải Phòng xử phạt Lương Ngọc B 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 12 tháng 8 năm 2022, chuyển tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2022 đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lương Ngọc D1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn M, huyện T2, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị L, anh Phạm Văn Đ3, chị Hoàng Thị Hương G, ông Tạ Tiến H1.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 12 tháng 8 năm 2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T2 và Công an thị trấn M làm nhiệm vụ tại khu vực đường 3 thuộc tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T2, thành phố Hải Phòng phát hiện Lương Ngọc B có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, lực lượng công an thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của B 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy); tạm giữ của B 01 xe mô tô biển số 16M6-4470. Tổ công tác đưa B cùng vật chứng về trụ sở Công an thị trấn M làm việc.

Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Lương Ngọc B thu giữ tại mặt bàn cuối giường trong phòng ngủ của Bính 01 túi nilon màu trắng kích thước 2cm x 2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy), 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế.

Tại Bản kết luận giám định số 401/KLGĐ-KTHS(MT) ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 gói giấy thu giữ của Bính là ma túy, có khối lượng 0,15 gam là loại Heroine; Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của B là ma túy, có khối lượng 0,09 gam là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Lương Ngọc B khai: Do bản thân nghiện ma túy đá và ma túy Heroine nên B thường xuyên mua ma túy về để sử dụng. Khoảng 15 giờ ngày 11 tháng 8 năm 2022, B một mình điều khiển xe mô tô biển số 16M6-4470 đi sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng và 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. Mua được ma túy, B điều khiển xe về nhà lấy một phần ma túy đá ra sử dụng, số ma túy còn lại B cất giấu tại mặt bàn cuối giường trong phòng ngủ của B. Đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 12 tháng 8 năm 2022, B điều khiển xe mô tô biển số 16M6-4470 đi chơi, trước khi đi B lấy gói ma túy Heroine cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc để sử dụng khi có nhu cầu. Khi đi đến khu vực đường 3 thuộc địa phận tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T2 thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên. Bộ đồ sử dụng ma túy đá công an thu giữ khi khám xét là của B tự chế để sử dụng ma túy cho bản thân. Xe mô tô biển số 16M6-4470 B mượn của anh Lương Ngọc D1 là em trai của B, khi mượn xe, B không nói với anh D1 sử dụng xe để đi mua ma túy.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lương Ngọc B khai nhận hành vi mua trái phép chất ma túy để sử dụng như nội dung trên, số tiền mua ma túy là do bị cáo lao động mà có.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lương Ngọc D1 khai: Xe mô tô biển số 16M6-4470 anh mua của bà Hoàng Thị P; địa chỉ: T 8, phường

3

Đ, quận H2, thành phố Hải Phòng từ năm 2016. Khi mua bán xe hai bên có viết giấy biên nhận, bà P có giao cho anh bản chính giấy đăng ký xe mô tô, nhưng giấy biên nhận về việc mua bán xe anh bị thất lạc, hiện anh không có chứng cứ về việc mua bán xe để giao nộp cho Tòa án, anh đề nghị Tòa án cho anh được nhận lại xe để sử dụng.

Tại Cáo trạng số 105/CT-VKSTN ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Lương Ngọc B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Ngọc B từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội: "Tàng trữ trái phép trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong phong bì dấu niêm phong số 401MT/PC09, vỏ bao bì, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế; Giao một xe mô tô biển số 16M6-4470 cho Công an huyện Thủy Nguyên để điểu tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật. Về án phí: Bị cáo Lương Ngọc B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Lương Ngọc B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định số 401/KL-KTHS(MT) ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định:

Ngày 12 tháng 8 năm 2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T2 và Công an thị trấn M bắt quả tang bị cáo Lương Ngọc B có hành vi tàng trữ 0,15 gam ma túy Heroine tại khu vực đường 3 thuộc tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T2, thành phố Hải Phòng; khám xét nơi ở của bị cáo, Cơ quan Công an thu giữ 0,09 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy Công an thu giữ là 0,24 gam. Bị cáo tàng trữ lượng ma túy trên để sử dụng cho bản thân.

4

Theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính Phủ thì Heroine là chất ma túy thuộc danh mục I, STT 09, Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, STT 323 danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành. Bị cáo Lương Ngọc B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi cất giấu 0,15 gam ma túy Heroine và 0,09 gam ma túy Methamphetamine trái phép mục đích để sử dụng của bị cáo Lương Ngọc B đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố và đề nghị áp dụng đối với bị cáo Lương Ngọc B theo tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà từ ma tuý đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh HIV/AIDS, là hiểm họa đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Lương Ngọc B có 01 tiền án tuy đã được xóa án nhưng bị cáo vẫn là người có nhân thân xấu.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Ngọc B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lương Ngọc B thành khẩn khai báo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Lương Ngọc B làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về vật chứng: Lượng ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì được niêm phong trong một phong bì giấy, dấu niêm phong số 401MT/PC09; ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, vỏ bao bì không còn giá trị sử dụng, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế bị cáo dùng để sử dụng ma túy có giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô biển số 16M6-4470 chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên giao cho Công an huyện T2 để điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

[10] Về vấn đề khác: Đối với anh Lương Ngọc D1 có hành vi cho Lương Ngọc B mượn xe mô tô, anh D1 không biết B sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

5

[10.1] Trong vụ án này không làm rõ được người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Lương Ngọc B nên không có căn cứ xử lý.

[11] Về án phí: Bị cáo Lương Ngọc B bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Ngọc B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Ngọc B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Lương Ngọc B tính từ ngày 12 tháng 8 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lương Ngọc B.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì đựng trong phong bì niêm phong số 401MT/PC09, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế.

Giao 01 xe mô tô biển số 16M6-4470 cho Công an huyện T2 để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

(Đặc điểm Vật chứng theo Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 10 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T2 và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T2).

Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 135; khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Lương Ngọc B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND TP. Hải Phòng;
  • - Viện KSND TP. Hải Phòng;
  • - Viện KSND H Thủy Nguyên;
  • - Cơ quan CSĐTCAH Thủy Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an TPHP;
  • - Phòng PV 06 CATP;
  • - Phòng PC 10 CATP;
  • - Sở Tư pháp HP;
  • - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Minh Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2022/HS-ST ngày 27/10/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 103/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự Lương Ngọc B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger