Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1029/2024/DS-PT

Ngày 16 – 12 – 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và

chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Văn Mười

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Đức Thọ

Ông Lê Hoàng Tấn

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 và 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 785/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và chia tài sản chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3380/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Anh Đ, sinh năm 1958 (có mặt);
  2. Địa chỉ: G T Block B căn, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đ: Luật sư Trần Giáng H – Văn phòng L5 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

  3. Bị đơn: Bà Võ Thị K, sinh năm 1932;
  4. Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà K: Bà Lê Thu T, sinh năm 1961; Địa chỉ: Ấp X, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà K: Luật sư Lê Nguyễn Kim H1 – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1948 (có mặt);
    • Địa chỉ: G Chung cư C, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • 3.2. Bà Đoàn Ánh T2, sinh năm 1953 (có mặt);
    • Địa chỉ: B, chung cư A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: A, đường số D, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • 3.3. Bà Đoàn Hằng N, sinh năm 1954 (có mặt);
    • Địa chỉ: Số A, T, phường T, quận T Thành phố Hồ Chí Minh.

    • 3.4. Ông Đoàn Thanh N1, sinh năm 1957 (vắng mặt);
    • Địa chỉ: Số G A, ấp T, xã T, huyện H Thành phố Hồ Chí Minh.

    • 3.5. Ông Đoàn Thanh M, sinh năm 1962 (vắng mặt);
    • Địa chỉ: Số B, Lô F, Cư xá T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Số A L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • 3.6. Bà Đoàn Thị Mỹ H2, sinh năm 1967 (vắng mặt);
    • Địa chỉ: A, L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Số A, L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • 3.7. Bà Đoàn Thị Mỹ L, sinh năm 1971 (vắng mặt);
    • Địa chỉ: 5, P, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 325/2B, đường B (đường Đ), phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • 3.8. Bà Đoàn Thị Huỳnh M1, sinh năm 1959 (vắng mặt);
    • Địa chỉ: A A, B, L, Hoa Kỳ.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà M1: Bà Đoàn Anh Đ, sinh năm 1958; Địa chỉ: G T Block B căn, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

    • 3.9. Anh Đoàn Trọng Minh Đ1, sinh năm 1993 (vắng mặt);
    • Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây NinhNinh.

    • 3.10. Chị Đoàn Thụy Cát V, sinh năm 1991 (vắng mặt);
    • Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

  6. Người kháng cáo: Bà Đoàn Anh Đ là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ trình bày:

Ông bà ngoại của bà là ông Võ Văn K1 và bà Ngô Thị V1 có 06 người con: Võ Văn D, Võ Thị L1, Võ Thị Đ2, Võ Thị K, Võ Thị M2 và Võ Thị M3. Bà Đ là con của bà L2. Sinh thời, ông ngoại bà là Võ Văn K1 có tạo lập được nhiều ruộng đất, trong đó có đất ruộng và đất thổ cư. Khi còn sống ông K1 đã lập “Tờ chúc ngôn chia ruộng đất cho con” và “Tờ chia ruộng đất cho con” để chia ruộng đất cho các con xong hết rồi, tất cả các con của ông K1 ai cũng đã nhận xong phần đất được chia.

2

Riêng phần đất đang tranh chấp có diện tích 4.335,4 m² gồm các thửa 438, 446, 447, 477, 490, 445, 478, 489 tờ bản đồ số 40 (bản đồ 2005) tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh là của ông K1 chia cho mẹ bà tên Võ Thị L2, việc chia đất này được thể hiện trong “Tờ chia ruộng đất cho con” ngày 01-5-1976, theo đó ông K1 có chia cho Võ Thị L2 0,53 ha đất thổ nhưng thực chất đây là đất đang tranh chấp. Từ ngày được chia đất bà L2 quản lý sử dụng, năm 2004, bà Đ từ Thành phố Hồ Chí Minh về quê ở để chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già, đau bệnh. Nên cha mẹ và các anh chị em bà Đ đồng ý cho bà Đ toàn bộ quyền sử dụng đất mà cha mẹ có, kể cả phần đất 4.335,4 m² đang tranh chấp. Ngày 03/11/2010 bà Đ được Ủy ban nhân dân huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành BC233395, số vào sổ CH00131(CM) đối với phần tranh chấp này.

Phần đất này từ khi được chia (năm 1976) bà L2 cho ông Phạm Văn Đ3 thuê, sau này khi bà Đ được tặng cho lại đất này cũng tiếp tục cho ông Đ3 thuê. Tháng 11/2021 bà K ngăn cản không cho thuê đất nên đất tranh chấp bỏ trống từ đó cho đến nay, trên đất không có tài sản gì. Việc bà L2 cho bà K 10 giạ lúa cho thuê đất và bà Đ cho bà K 1.000.000 đồng tiền thuê đất trong suốt thời gian cho thuê là phụ giúp bà K cúng giỗ ông bà, chứ không phải là chia tiền cho thuê đất. Nay bà Đ yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng phần đất 4.335,4 m² đang tranh chấp cho bà, không yêu cầu chia thừa kế hay tranh chấp các phần đất khác. Bà Đ thống nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả định giá như Tòa án đã cung cấp.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Lê Thu T trình bày:

Thống nhất với nguyên đơn về nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Võ Văn K1 để lại. Nhưng không có việc ông K1 cho riêng một mình bà L2 phần đất này mà là ông K1 cho chung hai người con là bà L2 với bà K. Gia đình bà L2 không có trực tiếp quản lý, canh tác trên đất do gia đình bà L2 sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Phần đất tranh chấp nằm trong tổng diện tích 1 ha 76 cao loại đất tọa lạc ấp C, H, G. Trong diện tích đất này, bà Đ2 đã bán diện tích 63 cao cho bà L3 gần khu đất này (đã chết), còn khoản 1,13 ha thì bà Đ2 đứng ra cho ông T3 (đã chết năm 2014) 70 cao để cúng cơm ông D, bà M2 và bà Đ2, còn 43 cao thì ông K1 cho chung bà L2 và bà K nhưng chỉ nói miệng, không nói rõ cho mỗi người diện tích bao nhiêu, bà K và bà L2 cùng nhau sản xuất, đến năm 1998 sức khỏe bà K đã yếu nên bà K với bà L2 mới cho ông Đ3 thuê, lúc đầu cho thuê mỗi năm 30 giạ lúa bà K với bà L2 chia đều nhau, đến năm 2010 khi bà Đ được cấp giấy đất thì bà Đ không cho thuê bằng lúa nữa, mà cho ông Đ3 thuê giá 3.000.000 đồng/năm, bà Đ lấy 2.000.000 đồng chia cho bà K 1.000.000 đồng. Bà K khiếu nại việc bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong khi bà Đ không có trực tiếp quản lý canh tác, nên ngày 25/8/2016 Ủy ban nhân dân huyện G thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đ.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà Đ thì bà K không đồng ý, bà K yêu cầu được chia một nữa diện tích đất tranh chấp 4.335,4 m² gồm các thửa 438, 446, 447, 477, 490, 445, 478, 489 tờ bản đồ số 40 (bản đồ 2005) tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G. Bà K không yêu cầu chia thừa kế hay tranh chấp các phần đất khác. Bà K thống

3

nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả định giá Tòa án đã cung cấp.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đoàn Thị T1, Đoàn Ảnh T4, Đoàn Hằng N, Đoàn Thanh N1, Đoàn Thanh M, Đoàn Thị Mỹ H2, Đoàn Thị Mỹ L trình bày:

Phần đất tranh chấp là của ông ngoại Võ Văn K1 cho mẹ là bà Võ Thị L2, tất cả các anh chị em cùng bà L2 đã đồng ý tặng cho phần đất này cho bà Đ rồi, nên nay không đồng ý với với yêu cầu phản tố của bà K. Đề nghị Tòa án công nhận phần đất tranh chấp cho bà Đ được quyền sử dụng.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Huỳnh M1 là bà Đoàn Anh Đ trình bày:

Bà M1 có cùng ý kiến và nguyện vọng với nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đoàn Trọng Minh Đ1, bà Đoàn Thụy Cát V vắng mặt khi Tòa án triệu tập, từ chối tham gia tố tụng nên không thể hiện ý kiến và nguyện vọng của mình.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh căn cứ: Điều 203 Luật Đất đai; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ đối với bị đơn bà Võ Thị K.
  2. Bà Đoàn Anh Đ được quyền sử dụng phần đất có diện tích 2.235,9m², loại đất chuyên trồng lúa nước, gồm các thửa 438, 446, 447, 477, 490 tờ bản đồ số 40, có tứ cận: Đông giáp mương và đường bê tông dài 6,51m + 9,17m + 15,43m + 14,86m + 1,53m + 10,18m + 9,14m; Tây giáp mương dài 15,91m + 15,93m + 13,19m+2,49m + 9,93m + 9,59m; Nam giáp mương dài 36,95 m; Bắc mương dài 32,39 m, tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh (có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).

  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố về việc “Tranh chấp chia tài sản chung” của bị đơn bà Võ Thị K đối với nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ.
  4. Bà Võ Thị K được quyền sử dụng phần đất có diện tích 2.099,5 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, gồm các thửa 478, 445, 489 tờ bản đồ số 40, có tứ cận: Đông giáp mương dài 32,03m + 15,15m + 1,99m + 17,94m; Tây giáp mương dài 5,63 m + 62,18m; Nam giáp mương dài 5,92m + 25,91m; Bắc mương dài 4,4m + 25,18m, tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh (có sơ đồ kèm theo).

  5. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ đối với bị đơn bà Võ Thị K đối với phần đất có diện tích 2.099,5 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, gồm các thửa 478, 445, 489 tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và dành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

4

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 12/8/2024, nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ có đơn kháng cáo đề nghị sửa toàn bộ quyết định của bản án sơ thẩm, xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng, “Tờ chúc ngôn chia ruộng đất cho con” có thể hiện nội dung 1 ha 76 cao này chị em thuận thảo chia nhau làm. Tuy nhiên, đó chỉ là chia ban đầu nên ngày 01/5/1976, cụ K1 có lập “Tờ chia ruộng đất cho con” thể hiện chia phần đất thổ 1 ha 76 cao cho 4 người con gái như sau: Bà Võ Thị L2 được chia 0 ha 53; Bà Võ Thị K được chia 0 ha 53; bà Võ Thị Đ2 được chia 0 ha 35; bà Võ Thị M3 được chia 0 ha 35, tổng là 1ha76 cao. Bà T cũng thừa nhận đất tranh chấp là phần đất nằm trong “Tờ chia ruộng đất cho con”, việc Tòa sơ thẩm xác định phần đất này chung chưa chia là không đúng. Cũng căn cứ vào “Tờ chia ruộng đất cho con” này các bà L2, K, Đ2, M3 đi làm thủ tục kê khai, đăng ký thủ tục cấp giấy CNQSD đất đối với phần diện tích đất ruộng, nên bà L2 cũng được cấp giấy đối với phần diện tích đất thổ này. Sau đó, bà L2 cho ông Đ3 thuê đất; bà Đ sau này về chăm sóc cha mẹ nên các anh chị em mới thống nhất cho bà Đ. Năm 2021, bà T là con bà K tranh chấp nên không cho thuê nữa. Năm 2010, bà Đ được cấp giấy, sau đó bà K khiếu nại. Bà Đ bị thu hồi giấy là do cấp chưa đúng trình tự thủ tục theo quy định chứ không phải cấp sai đối tượng. Như vậy, có căn cứ xác định đất tranh chấp là tài sản đã được chia theo di chúc thể hiện thông qua “Tờ chia ruộng đất cho con”. Phần đất này phía nguyên đơn trực tiếp quản lý, sử dụng thông qua việc cho ông Đ3 thuê đất. Bà K đã được chia rất nhiều đất hơn các anh chị em trong nhà. Phần đất bà K được chia bà K đã cho ông T3 và ông T3 cũng được cấp giấy lấn sang phần đất của bà L2. Từ những nội dung trên, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày, về nguồn gốc phần đất đang tranh chấp thì thống nhất với ý kiến của nguyên đơn là của cụ K1 để lại cho các con. Trên cơ sở “Tờ chia ruộng đất cho con năm 1976” thì phần đất đang tranh chấp có tổng diện tích là 1 ha 76 cao. Sau khi có tờ này thì bà Đ2 có bàn với các chị em bán 63 cao đất cho bà L3 mục đích xây mồ mả ông bà, còn khoản 1.13ha bà Đ2 đứng ra cho ông T3 70 cao để cúng cơm ông D, bà M2 và bà Đ2, còn lại thì ông K1 cho chung bà L2 và bà K nhưng chỉ nói miệng, không nói rõ cho mỗi người diện tích bao nhiêu, không ai tranh chấp. Trừ ra thì diện tích lớn hơn đất tranh chấp nhưng do năm 1986, đất đó có bị hao hụt do Nhà nước phóng đê nên mới còn diện tích khoảng hơn 4.000m². Về quá trình sử dụng, lúc đầu hai bà K, L2 cùng nhau làm, nhưng đến năm 1998 bà K già yếu nên mới giao cho chị N2 là con dâu bà L2 làm, sau đó không làm nữa bà L2 và bà K mới thống nhất cho ông Đ3 thuê, điều này đã được ông Đ3 xác nhận. Khi bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà K đi khiếu nại vì đất này là của chung hai chị em, Ủy ban huyện G sau khi kiểm tra thì có quyết định thu hồi do việc cấp giấy cho bà

5

Đ do chưa đảm bảo quy định pháp luật về đất đai. Do đó, Tòa sơ thẩm xét xử chia đôi diện tích đất là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các đương sự vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày và cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ gì mới, cũng không có thỏa thuận gì với nhau, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án: Về nguồn gốc đất là của cụ K1 để lại đất cho con. Quá trình sử dụng đất và tranh chấp, bà Đ cho rằng đất này cụ K1 cho riêng bà L2, bà L2 cho bà Đ nhưng chỉ là nói miệng không có chứng cứ chứng minh, bà K cũng không thừa nhận. Bản án sơ thẩm xét xử chia đôi diện tích đất là có căn cứ, nguyên đơn kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Phần đất đang tranh chấp gồm các thửa 438, 446, 447, 477, 490, 445, 478, 489 tờ bản đồ số 40 (bản đồ 2005) tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh có diện tích qua đo đạc thực tế là 4.335,4 m². Hiện nay, chưa ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất không có cây trồng, tài sản hay công trình xây dựng gì.

[2.1] Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp: Các bên đều thống nhất nguồn gốc đất là của cụ Võ Văn K1 để lại. Khi còn sống cụ K1 có viết “Tờ chúc ngôn chia ruộng đất cho con” và “Tờ chia ruộng đất cho con”, tổng diện tích 01 ha 76 cao trong cả hai văn bản này là một và phần đất tranh chấp diện tích 4.335,4m² nằm trong tổng diện tích 01 ha 76 cao này.

[2.2] Về quá trình sử dụng:

[2.2.1] Nguyên đơn trình bày thì sau khi được ông K1 cho đất năm 1976 bà L2 quản lý sử dụng thông qua việc cho ông Đ3 thuê cho đến năm 2004 tặng cho lại bà Đ, sau đó bà Đ tiếp tục quản lý và cho ông Đ3 thuê. Bị đơn trình bày quản lý sử dụng phần đất này từ trước năm 1975 đến nay, nhưng do không trực tiếp sản xuất nên có bàn bạc với bà L2 cùng cho ông Phạm Văn Đ3 thuê và cùng hưởng tiền cho

6

thuê đất. Như vậy, cả nguyên đơn và bị đơn đều xác định, phần đất này không trực tiếp canh tác mà quản lý, sử dụng thông qua việc cho ông Phạm Văn Đ3 thuê đất; chỉ khác nhau ở việc nguyên đơn cho rằng một mình bà L2 cho thuê, còn bị đơn cho rằng cả bà L4 và bà K cho thuê vì phần đất diện tích này là ông K1 cho hai người chị em.

[2.2.2] Ông Phạm Văn Đ3 là người thuê phần đất tranh chấp trình bày, ông trực tiếp thuê đất này của bà K và bà L2 vào năm 1998, tiền thuê lúc đầu mỗi năm 30 giạ lúa ông trả cho hai người, sau này tiền thuê đất mỗi năm 3.000.000 đồng ông cũng trả cho hai người là bà K và bà L2, bà Đ không biết vị trí đất ở đâu phải nhờ ông Đ3 chỉ vị trí đất, theo ông Đ3 đây là đất tông chỉ chưa chia. Bà Lê Thị N2 là con dâu bà L2 trình bày, bà sống chung nhà với bà L2 từ năm 1989 nên biết rõ nguồn gốc đất tranh chấp là của ông K1 cho chung bà L2 với bà K, trước khi hai bà cho ông Đ3 thuê đất thì có cùng nhau canh tác nhưng không có hiệu quả nên mới cho ông Đ3 thuê đất. Những lời trình bày này là phù hợp với lời trình bày của phía bị đơn.

[2.2.3] Ngoài ra, phần đất tranh chấp các bên đương sự đều thừa nhận nằm trong tổng diện tích 01 ha 76 cao và phần 01 ha 76 cao này trong tờ chúc ngôn cũng như trong tờ phân chia ruộng đất là một. Theo tờ chúc ngôn thì phần 1 ha 76 cao này thể hiện rõ là đất này mấy chị em thuận thảo chia nhau làm. Trong phần 1 ha 76 cao này bà Đ2 đã bán 01 phần cho bà L3, giao ông T3 đứng tên một phần diện tích 70 cao để cúng giỗ ông D, bà Đ2 và bà M3, còn lại diện tích đất tranh chấp thì bà K và bà L2 cùng sản xuất và cùng nhau cho thuê. Bà Đ cho rằng phần đất tranh chấp này ông K1 chia cho bà L2, sau đó bà L2 cho lại bà nhưng không có văn bản nào thể hiện, phía bị đơn không thừa nhận, đồng thời bà Đ cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

[2.3] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BC233395 ngày 03/11/2010 của UBND huyện G cấp cho bà Đoàn Anh Đ đối với các thửa đất 438, 446, 447, 477, 490, 445, 478, 489 tờ bản đồ số 40 (bản đồ 2005) tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh có diện tích qua đo đạc thực tế là 4.335,4 m²; do có khiếu nại của bà Võ Thị K nên đã bị UBND huyện G ra quyết định với lý do việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà Đoàn Anh Đ là chưa đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Từ phân tích ở trên, Tòa án sơ thẩm xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; chia cho bị đơn được quyền sử dụng phần đất diện tích 2.099.5m² gồm các thửa 445, 478, 489 tờ bản đồ số 40; giao cho nguyên đơn được quyền sử dụng phần diện tích còn lại 2.235.9m² gồm các thửa 438, 446, 447, 477, 490 tờ bản đồ số 40 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn là bà Đoàn Anh Đ kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

7

[4] Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm. Bà Đoàn Anh Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là bà Đoàn Anh Đ.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ Điều 203 Luật Đất đai; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ đối với bị đơn bà Võ Thị K.
  2. Bà Đoàn Anh Đ được quyền sử dụng phần đất có diện tích 2.235,9m², loại đất chuyên trồng lúa nước, gồm các thửa 438, 446, 447, 477, 490 tờ bản đồ số 40, có tứ cận: Đông giáp mương và đường bê tông dài 6,51m + 9,17m + 15,43m + 14,86m + 1,53m + 10,18m + 9,14m; Tây giáp mương dài 15,91m + 15,93m + 13,19m+2,49m + 9,93m + 9,59m; Nam giáp mương dài 36,95 m; Bắc mương dài 32,39 m, tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh (có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).

  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố về việc “Tranh chấp chia tài sản chung” của bị đơn bà Võ Thị K đối với nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ.
  4. Bà Võ Thị K được quyền sử dụng phần đất có diện tích 2.099,5 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, gồm các thửa 478, 445, 489 tờ bản đồ số 40, có tứ cận: Đông giáp mương dài 32,03m + 15,15m + 1,99m + 17,94m; Tây giáp mương dài 5,63 m + 62,18m; Nam giáp mương dài 5,92m + 25,91m; Bắc mương dài 4,4m + 25,18m, tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh (có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).

  5. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của nguyên đơn bà Đoàn Anh Đ đối với bị đơn bà Võ Thị K đối với phần đất có diện tích 2.099,5 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, gồm các thửa 478, 445, 489 tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
  6. Về án phí phúc thẩm: Bà Đoàn Anh Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.

8

5. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị Cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lục pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NTV.

9

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1029/2024/DS-PT ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất và chia tài sản chung

  • Số bản án: 1029/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger