Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1028/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-8-2024.

V/v Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc
  2. Bà Nguyễn Phước Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa:

Không tham gia phiên tòa.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 709/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 387/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 409/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1996. (Có mặt)

Địa chỉ thường trú: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Địa chỉ liên lạc: Số B Tỉnh lộ 9, ấp D, xã B, huyện C, Tp. Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số B Tỉnh lộ 9, ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/6/2024 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn B tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2018 có Giấy chứng nhận kết hôn số 143/2018 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/10/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ông B không lo kinh tế gia đình, bỏ bê không quan tâm con cái, không chịu lo làm ăn, đam mê cờ bạc, nợ nần, nhậu nhẹt say xỉn về nhà bạo lực gia đình, đánh đập bà. Bà nhiều lần khuyên ông B hãy vì gia đình, con cái sống hòa thuận và cùng bà xây dựng hạnh phúc. Ông B vẫn không thay đổi, vợ chồng bà không còn tiếng nói chung nữa. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi được ly hôn với ông B.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Minh T1, sinh ngày 17/02/2015 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 24/8/2018. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc 02 (hai) con chung. Bà không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T tự nguyện chịu toàn bộ án phí.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn B: Vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Nguyễn Văn B là “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”; bị đơn trong vụ án là ông Nguyễn Văn B hiện cư trú tại huyện C, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông B theo quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Nguyễn Văn B có đăng ký kết hôn được UBND xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 143/2018 ngày 23/10/2018. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà T trình bày sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ông B không lo kinh tế gia đình, bỏ bê không quan tâm con cái, không chịu lo làm ăn, đam mê cờ bạc, nợ nần, nhậu nhẹt say xỉn về nhà bạo lực gia đình, đánh đập bà. Bà T nhiều lần khuyên ông B hãy vì gia đình, con cái sống hòa thuận và cùng bà xây dựng hạnh phúc. Ông B vẫn không thay đổi, vợ chồng bà không còn tiếng nói chung nữa. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi được ly hôn với ông B.

Trong quá trình giải quyết vụ án, dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông B không đến Tòa án để giải quyết và không có bất cứ tác động nào cho thấy muốn hàn gắn quan hệ gia đình với bà T nên Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu xin ly hôn với bà T là chính đáng. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông B.

[4] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Minh T1, sinh ngày 17/02/2015 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 24/8/2018. Bà T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung và không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu T1 và cháu K đang chung sống với mẹ và có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Ông B đã nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không thể hiện ý kiến gì khác. Do đó, để ổn định tâm sinh lý của trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu T1 và cháu K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung: Bà T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Về án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà T tự nguyện chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thùy T là được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

    Giấy chứng nhận kết hôn số: 143/2018 ngày 23/10/2018 của UBND xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Minh T1, sinh ngày 17/02/2015 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 24/8/2018.

    Giao cho bà Nguyễn Thị Thùy T trực tiếp nuôi 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Minh T1 và cháu Nguyễn Quốc K. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

    Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 và khoản 2 Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng con chung.

  3. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015527 ngày 18/6/2024 của Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - UBND xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi Cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1028/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1028/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thùy T ly hôn Nguyễn Văn B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger