Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1028/2025/DS-ST

Ngày: 20/6/2025.

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Nhung

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Võ Văn Lợi
  2. Ông Trần Đăng Vạn

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2866/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5611/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5686.2/2025/QĐST-DS ngày 16/6/2025 và của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N.

    Trụ sở: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1980

    Địa chỉ: số E L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Văn bản ủy quyền số 1323/NHNo-ĐSG ngày 28/6/2024).

  2. Bị đơn: Ông Hồ Lê Duy K, sinh năm 1996.

    Địa chỉ thường trú: tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

    Địa chỉ nơi ở: G đường A, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 6 năm 2024 của nguyên đơn Ngân hàng N và trong quá trình giải quyết có ông Nguyễn Hoàng H là đại diện ủy quyền trình bày:

Ngân hàng N –Chi nhánh Đ - Phòng G (viết tắt là Ngân hàng N) cho ông Hồ Lê Duy K vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202201130 ngày 13/10/2022, phục lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ do ông Hồ Lê Duy K ký với số tiền vay: 2.000.000.000 đồng, mục đích vay bù đắp tài chính mua đất ở xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày nhận nợ tiền vay 17/10/2022, thời hạn vay là 240 tháng (từ ngày 17/10/2022 đến ngày 17/10/2042), ngày nhận tiền vay lần đầu là ngày 17/10/2022, giải ngân qua hình thức chuyển khoản, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là 10.5%/năm. Lãi suất này được điều chỉnh định ký tối thiểu 03tháng/lần (vào các ngày 05/01, 05/04, 05/07, 05/10 hàng năm) phù hợp với quy định hiện hành của Ngân hàng N, lãi suất nợ quá hạn tối đa bằng 150%/năm so với lãi suất vay đã thỏa thuận, lãi suất chậm trả 10%/năm, phương thức trả tiền vay 12 tháng/kỳ vào ngày 17/10 hàng năm với số tiền 100.000.000 đồng và trả tiền lãi cùng kỳ trả gốc. Tại thời điểm vay ông Hồ Lê Duy K chưa đăng ký kết hôn theo giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 185/UBND-XNTTHN ngày 19/5/2022 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngày 13/10/2022, ông Hồ Lê Duy K ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202200874 thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 132,8m², thuộc thửa 533 tờ bản đồ số 17 xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 518578 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/4/2019, cập nhật thay đổi ngày 12/10/2022 cho ông Hồ Lê Duy K. Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 13/10/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ khi giải ngân cho đến nay ông Hồ Lê Duy K chưa đã trả cho Ngân hàng được kỳ nào. Do ông Hồ Lê Duy K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng đã có thông báo chuyển toàn bộ dư nợ gốc 2.000.000.000 đồng thành nợ quá hạn tính từ ngày 18/10/2022 và khởi kiện yêu cầu buộc ông Hồ Lê Duy K thanh toán số tiền nợ tính đến hết ngày 20/6/2025, tiền nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, và tiền lãi gồm: lãi trong hạn từ ngày 17/10/2022 đến ngày 20/6/2025 là 529.084.931 đồng, lãi quá hạn từ ngày 18/10/2022 đến ngày 20/6/2025 là 10.358.493 đồng, tiền lãi chậm trả từ ngày 17/10/2022 đến ngày 20/6/2025: 50.841.645 đồng, tổng cộng tiền nợ gốc và lãi là 2.590.285.069 đồng theo bảng tính lãi ngày 20/6/2025 của Ngân hàng N và ông Hồ Lê Duy K phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng giữa đôi bên kể từ ngày 21/6/2025 cho đến khi thanh toán xong số nợ trên. Trường hợp ông Hồ Lê Duy K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nêu trên thì Ngân hàng N yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202200874 ngày 13/10/2022. Ngân hàng xác định chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông Hồ Lê Duy K có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng và không biết vợ ông Hồ Lê Duy K là ai vì tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp ông Hồ Lê Duy K chưa có gia đình.

Bị đơn là ông Hồ Lê Duy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ kiện nhưng ông Hồ Lê Duy K đều vắng mặt không có lý do cũng như không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do ông Hồ Lê Duy K vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: thụ lý đúng quy định theo thẩm quyền, vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng nội dung, thành phần xét xử, đúng thời gian, địa điểm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N, buộc bị đơn ông Hồ Lê Duy K có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ tính đến ngày 20/6/2025 là tiền nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, và tiền lãi gồm: lãi trong hạn là 529.084.931 đồng, lãi quá hạn là 10.358.493 đồng, tiền lãi chậm trả: 50.841.645 đồng, tổng cộng tiền nợ gốc và lãi là 2.590.285.069 đồng và ông Hồ Lê Duy K phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng giữa đôi bên kể từ ngày 21/6/2025 cho đến khi thanh toán xong số nợ trên. Trường hợp ông Hồ Lê Duy K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nêu trên thì Ngân hàng N yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202200874 ngày 13/10/2022.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Xuân B phải trả cho Ngân hàng số tiền đã vay và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202201130 ngày 13/10/2022, phục lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ ngày 17/10/2022 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh Đ -Phòng G, địa chỉ số E L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo thỏa thuận tại hợp đồng trường hợp mọi tranh chấp phát sinh tranh chấp từ hợp đồng này được giải quyết trên cơ sở thương lượng. Trường hợp không thương lượng được thống nhất giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Hồ Lê Duy K có địa chỉ thường trú: tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, theo kết quả xác minh ông K có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên nhưng không sinh sống tại địa phương và được biết ông K đang sống tại 2 khu dân cư P, Nhà B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Công an xã P thì trên địa bàn không có địa chỉ 2/9 khu dân cư P, Nhà B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại hợp đồng tín dụng thể hiện địa chỉ ông Hồ Lê Duy K tại số G đường A, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an phường L, thành phố T thì tại địa chỉ G đường A, khu phố C, phường L, thành phố T không có đương sự tên Hồ Lê Duy K đăng ký thường trú, tạm trú hay thực tế cư trú.

Do đó, việc niêm yết công khai không đảm bảo cho bị đơn ông Hồ Lê Duy K nhận được thông tin về việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Căn cứ Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông Hồ Lê Duy K nhưng bị đơn vẫn vắng mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Về nội dung:

Bị đơn ông Hồ Lê Duy K đã được Tòa án triệu tập và thông báo đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N nhưng ông Hồ Lê Duy K vắng mặt không rõ lý do cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, ông Hồ Lê Duy K đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202201130 ngày 13/10/2022, phục lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ ngày 17/10/2022 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh Đ -Phòng G với ông Hồ Lê Duy K có cơ sở xác định ngày 17/10/2025 ông Hồ Lê Duy K có vay của Ngân hàng N số tiền 2.000.000.000đồng, vay bù đắp tài chính mua đất ở xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, thời hạn vay là 240 tháng (từ ngày 17/10/2022 đến ngày 17/10/2042), lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là 10.5%/năm. Hình thức giải ngân qua tài khoản bên thụ hưởng, Phương thức áp dụng lãi suất có điều chỉnh nhưng phải phù hợp với quy định hiện hành của Ngân hàng N, lãi suất nợ quá hạn tối đa bằng 150%/năm so với lãi suất vay đã thỏa thuận, lãi suất chậm trả 10%/năm, phương thức trả tiền vay định kỳ 12 tháng/kỳ vào ngày 17/10 hàng năm với số tiền gốc 100.000.000 đồng và trả tiền lãi cùng kỳ trả gốc. Từ khi vay cho đến ngày xét xử sơ thẩm, ông Hồ Lê Duy K không thanh toán cho Ngân hàng tiền nợ theo thỏa thuận, vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngày 18/10/2022 Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% trên toàn bộ dư nợ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay.

Xét, Hợp đồng tín dụng trên và phục lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ giữa Ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng G với ông Hồ Lê Duy K có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại Điều 405, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng. Hợp đồng giao kết giữa các bên là tự nguyện, có đủ năng lực hành vi phù hợp với quy định tại các Điều 117, Điều 119 và Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Lãi suất thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả tiền nợ gốc và tiền lãi của hợp đồng tín dụng trên kèm bảng tính lãi với lãi suất cụ thể với số tiền nợ gốc: 2.000.000.000 đồng và tiền lãi gồm: lãi trong hạn từ ngày 17/10/2022 đến ngày 20/6/2025 là 529.084.931 đồng, lãi quá hạn từ ngày 18/10/2022 đến ngày 20/6/2025 là 10.358.493 đồng, tiền lãi chậm trả từ ngày 17/10/2022 đến ngày 20/6/2025: 50.841.645 đồng, tổng cộng tiền nợ gốc và lãi là 2.590.285.069 đồnglà có cơ sở chấp nhận.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Hồ Lê Duy K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp:

Căn cứ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202200874 ngày 13/10/2022 giữa bên thế chấp ông Hồ Lê Duy K và bên nhận thế chấp Ngân hàng N số công chứng 0014631 ngày 13/10/2022, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 13/10/2022 với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 132,8m², thuộc thửa 533 tờ bản đồ số 17 xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 518578 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/4/2019, cập nhật thay đổi ngày 12/10/2022 cho ông Hồ Lê Duy K để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bị đơn bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác có liên quan theo hợp đồng tín dụng trên.

Xét hợp đồng thế chấp giữa các bên được giao kết tự nguyện, nội dung phù hợp với quy định của pháp luật, hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định tại Điều 117, Điều 319 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 167 Luật đất đai năm 2013, Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật các bên tham gia hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện thỏa thuận tại hợp đồng. Do đó, trường hợp ông Hồ Lê Duy K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng Nông nghiệp có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 6280-LCP-202200874 ngày 13/10/2022 để thu hồi nợ.

Ngày ông Hồ Lê Duy K thanh toán xong nợ gốc và lãi cho Ngân hàng N thì Ngân hàng H1 theo theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-20220087- ngày 13/10/2022.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Hồ Lê Duy K phải chịu tiền án phí sơ thẩm.

Nguyên đơn Ngân hàng N được trả lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 117, Điều 319, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.

Buộc ông Hồ Lê Duy K có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng N đến hết ngày 20/6/2025 là 2.590.285.069 đồng (trong đó tiền nợ gốc: 2.000.000.000đồng, tiền lãi trong hạn 529.084.931 đồng, lãi quá hạn là 10.358.493 đồng, tiền lãi chậm trả: 50.841.645 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202201130 ngày 13/10/2022, phục lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ ngày 17/10/2022 giữa Ngân hàng N với ông Hồ Lê Duy K.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Hồ Lê Duy K còn phải tiếp tục trả các khoản lãi, phí cho Ngân hàng N trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số nợ trên theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202201130 ngày 13/10/2022. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Hồ Lê Duy K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202200874 ngày 13/10/2022 tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 132,8m², thuộc thửa 533 tờ bản đồ số 17 xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 518578 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/4/2019, cập nhật thay đổi ngày 12/10/2022 cho ông Hồ Lê Duy K. Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 17/7/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.

Ngày ông Hồ Lê Duy K thanh toán xong nợ gốc và lãi cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N phải trả lại toàn bộ bản chính giấy tờ đã thế chấp cho ông Hồ Lê Duy K theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202200874 ngày 13/10/2022.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Hồ Lê Duy K phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 83.805.701đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngân hàng N không phải chịu án phí. Ngân hàng N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 39.656.828 đồng theo Biên lai thu số 0067887 ngày 10/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về chi phí tố tụng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 15.000.000 đồng nguyên đơn Ngân hàng N đã tạm nộp nên bị đơn ông Nguyễn Xuân B có trách nhiệm hoàn lại cho Ngân hàng N số tiền 15.000.000 đồng tiền chi phí tố tụng, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Về chi phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng nguyên đơn Ngân hàng N đã tạm ứng và Ngân hàng N phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TANDTP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP . Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1028/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1028/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Hồ Lê Duy Khang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger