Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1027/2024/DS-PT

Ngày: 13-12-2024

V/v “Tranh chấp Quyền sử dụng đất, hủy

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Hòa Hiệp
Ông Ngô Mạnh Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 702/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3273/2024/QĐPT-DS ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố D, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 13-12-2022) (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Phan Văn V, sinh năm 1957; địa chỉ: D, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 03-3-2023) (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Mạnh L2, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ H, ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

2/ Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phan Thị L, bị đơn bà Nguyễn Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn và đại diện của nguyên đơn trình bày:

Bà L là vợ của ông Nguyễn Văn L3 (sinh năm 1966, chết năm 2020), hiện tại bà đang quản lý, sử dụng diện tích 2.600 m² đất thuộc các thửa 3813, 3814, 3815, tờ bản đồ số 9, tọa lạc ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Nguồn gốc đất là do cha mẹ chồng là cụ Nguyễn Văn X (đã chết) và cụ Đỗ Thị T (đã chết) tạo lập, chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Khoảng năm 1990, chồng bà là ông Nguyễn Văn L3 lấy vợ trước (không biết họ tên, địa chỉ) nên cha mẹ chồng tặng cho chồng bà toàn bộ diện tích đất trên để làm ăn sinh sống. Chồng bà đã làm 01 căn nhà tranh vách đất trên đất này để sinh sống cùng vợ trước.

Vào năm 1995, ông L3 ly hôn với vợ trước, buồn phiền nên bỏ đi Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê. Thấy ông L3 đi làm ăn xa, nhà bỏ trống không ai ở nên bà Huỳnh Thị N1 (là em gái của bị đơn bà Nguyễn Thị N) và chồng là ông Lê Văn N2 xin được ở nhờ thì ông L3 đồng ý cho ở vì thấy nhà để không sẽ hư hỏng và vợ chồng bà N1 cũng không có con cái.

Sau khi vào ở nhờ thì bà N1 lén lút đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, đã được Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành H 927176, số vào sổ cấp GCN: 02228 QSDĐ/450804 ngày 05/12/1996 đứng tên Nguyễn Thị N3 với diện tích 2.600 m² thuộc các thửa 3813, 3814, 3815 tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Ông L3 không biết việc này.

Năm 2000 bà N3 chết, ông N2 cũng bỏ đi nên đất bỏ hoang, bị trâu bò phá lổ hang nhiều chổ. Năm 2002 ông L3 lấy lại đất, dọn dẹp cây cối, xử lý đất hoang để canh tác. Năm 2012 bà và ông L3 xây dựng lại căn nhà tường kiên cố trên đất và vợ chồng chuyển đến sinh sống. Đến năm 2020 ông L3 chết, mẹ con bà tiếp tục quản lý, sử dụng đất cho đến nay.

Ông Ngày sau đó cũng về sống trên đất và chết vào năm 2018. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên do bà Nguyễn Thị N cất giữ đến nay.

Thực ra, khi gia đình chồng bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do nông dân thiếu hiểu biết nên gia đình chồng không biết là cấp thiếu để khiếu nại. Thậm chí khi có tranh chấp đến hôm nay bà mới phát hiện toàn bộ đất của gia đình chồng bà quản lý, sử dụng canh tác nhưng ngoài phần cha chồng được cấp giấy sau đó chuyển lại cho ông L3 (chồng bà L) thì có phần cấp cho bà Huỳnh Thị N1. Trên phần đất cấp cho bà N1 có căn nhà cấp 4 của vợ chồng bà xây năm 2002, trước năm 2002 là nhà tranh và còn một phần sót lại chưa cấp giấy cho ai.

Ngày 27/5/2019, bà N tự xin điều chỉnh họ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ họ “Huỳnh” thành họ “Nguyễn”, từ năm sinh “1958” thành “1959” mà bà N1 đã chết trước đó 19 năm rồi. Lý do điều chỉnh để bà chứng minh Nguyễn Thị N3 là em ruột của bà, bà là Nguyễn Thị N, sinh năm 1959, em bà sinh năm 1958 lớn hơn bà là không phù hợp. Không biết căn cứ vào đâu mà Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh G đã chấp nhận điều chỉnh trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà N3 từ ngày 05/12/1996, bà N3 chết ngày 18/02/2000 tức đã chết trước đó 19 năm.

Ngày 21/3/2021 bà N khởi kiện bà tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu yêu cầu bà trả 2.600 m² đất trên. Sau đó bà N rút đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Nay bà L khởi kiện yêu cầu: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu số H 927176, số vào sổ cấp GCN: 02228 QSDĐ/450804 ngày 05/12/1996 đứng tên Nguyễn Thị N3 với diện tích 2.600m² thuộc các thửa 3813, 3814, 3815 tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh và yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng diện tích đất trên cho bà.

Bị đơn bà Nguyễn Thị N và người đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày:

Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định quyền sử dụng đất là của bà N3 (em ruột của bà). Bà không thừa nhận là đất của bà L.

Lý do: Nguồn gốc đất là do ông bà ngoại để lại cho mẹ bà và mẹ bà đã để lại cho bà N3 ở. Nay bà N3 đã chết, bà là người thừa kế duy nhất nên bà yêu cầu được nhận diện tích đất trên.

Bà N thừa nhận trước đây có khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu nhưng không phải bà rút đơn khởi kiện mà do Tòa án Gò D thông báo trả lại đơn khởi kiện, lý do chưa qua hòa giải cơ sở. Tòa án Gò D đã thụ lý nhưng lại thông báo trả lại đơn là không đúng quy định. Đề nghị xem xét trả lại hồ sơ để Tòa án huyện G tiếp tục giải quyết vụ án và xem xét lại yêu cầu khởi kiện để chuyển thẩm quyền.

Bà xác định không có căn cứ để hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị xem xét tư cách của nguyên đơn đứng đơn khởi kiện có đủ điều kiện khởi kiện hay không. Tranh chấp đã được giải quyết qua thủ tục hòa giải cơ sở rồi, đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Mạnh L2 trình bày:

Cha ruột của bà ông Nguyễn Văn L3 (sinh 1966, chết 2020) và mẹ ruột là bà Nguyễn Thị L4. Phần đất tranh chấp có diện tích 2.600 m² gồm các thửa 3813, 3814, 3815 nói trên có nguồn gốc là của ông bà nội để lại cho cha bà là Nguyễn Văn L3, hiện tại trên đất có căn nhà cha mẹ bà xây từ năm 2012, trước đó là nhà tranh vách đất.

Trước đây, cha bà có cho bà Huỳnh Thị N1 (là em của bà N) và chồng là ông Lê Văn N2 ở nhờ. Bà N1 đã lén lút kê khai đăng ký, năm 2000 bà N1 chết, cha

lấy lại đất sản xuất. Năm 2012 cha mẹ xây nhà tường kiên cố và gia đình ở cho đến nay.

Năm 2018 ông N2 chết, bà N giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã đi điều chỉnh họ, năm sinh của bà Huỳnh Thị N1 để chứng minh bà N1 là em ruột bà N. Bà L2 thống nhất yêu cầu khởi kiện của mẹ bà, không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân huyện G trình bày:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H927176, số vào sổ cấp GCN: 02228 QSDĐ/450804 ngày 05/12/1996 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị N1 đứng tên (tại trang 4 chỉnh sửa tên Huỳnh Thị N1 thành Nguyễn Thị N3) diện tích 2.600m², thuộc các thửa 3813, 3814, 3815 tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Việc Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N3 là đúng theo quy định của pháp luật về đất đai.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

I. Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 37; Điều 147; Điều 149; Điều 155; Điều 156; Điều 157; Điều 158; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 165; Điều 166; Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 255, Điều 258 của Bộ luật Dân sự 2005

Căn cứ Điều 5; Điều 166; Điều 167; Điều 203 của Luật Đất đai.

Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

II. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị L đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N về Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
    • - Không chấp nhận khởi kiện của bà Phan Thị L về yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02228 QSDD/450804 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị N1 vào ngày 05/12/1996 có điều chỉnh trang 4.
    • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Phan Thị L đối với bà Nguyễn Thị N.

Bà Phan Thị L được quyền sử dụng 03 thửa đất liền kề: Thửa 288 diện tích là 664,4 m², thửa 294 diện tích là 296,7 m², thửa 295 diện tích là 333,2 m². Mục đích sử dụng: Đất ruộng màu (ĐRM) và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất. Tứ cận đất như sau:

  • Hướng Bắc giáp thửa 289 dài 19,03 m + 11,52m;
  • Hướng Nam giáp đất giao cho bà N thửa 305 dài 32,97 m;
  • Hướng Đông giáp thửa 530, 293;
  • Hướng Tây giáp đường đất dài 3,26m + 21,24 m + 18,98 m.

Bà Nguyễn Thị N được quyền sử dụng thửa 305 diện tích là 792,6 m² và cây trái trên đất. Mục đích sử dụng: Đất ruộng màu (ĐRM), có tứ cận:

  • Hướng Bắc giáp thửa 294, 295 dài 32,97 m;
  • Hướng Nam giáp đất mương nước dài 32,97 m;
  • Hướng Đông giáp thửa 293 dài 2,28 m + 21,95 m;
  • Hướng Tây giáp đường đất dài 24,76 m;

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về đất đai điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 927176, số vào sổ cấp GCN: 02228 QSDĐ/450804 ngày 05/12/1996 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị N1 đứng tên (có điều chỉnh trang 4) diện tích 2.600m² thuộc các thửa 3813, 3814, 3815 tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh cho phù hợp với quyết định của bản án này.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 31/7/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 07/8/2024, nguyên đơn bà Phan Thị L có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị L1 là đại diện hợp pháp của nguyên đơn không thay đổi, bổ sung, không rút đơn khởi kiện; không thay đổi, bổ sung và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn bà Nguyễn Thị N không thay đổi, bổ sung và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự khác vắng mặt tại phiên toà nên không thể hiện ý kiến. Các đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, các đương sự trình bày như sau:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn là chưa đầy đủ. Nguồn gốc đất là của cha chồng bà L là ông Nguyễn Văn X cho lại chồng bà là ông Nguyễn Văn L3. Bà L và ông L3 trực tiếp canh tác, bà N1 chỉ là ở nhờ, không canh tác, trồng tỉa gì trên đất. Ủy ban huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N1 nhưng không xem xét thực tế. Khi cấp giấy có sự trùng thửa, đồng thời ông L3 bà L cất nhà tole năm 2002, sau này xây nhà tường kiên cố trên đất khi bà N1 đã chết, ông N2 chồng bà N1 còn sống nhưng ông N2 không ngăn cản. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận cho bà N1 xong đến 19 năm sau bà N thực hiện thủ tục đổi họ cho bà N1 từ họ “H” thành họ “Nguyễn” và từ năm sinh “1958” thành sinh năm “1959”. Việc điều chỉnh này không khách quan. Bà N cho rằng bà N1 mua nhà đất của ông L3 là 05 phân vàng 24K nhưng không có chứng cứ chứng minh, và bà N lại trình bày đất của gia đình ông L3 cho nhưng không có căn cứ thể hiện là cho. Tại

công văn ngày 25-9-2023 của Phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh huyện G cho rằng hồ sơ gốc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N1 không có, chỉ có Quyết định của Ủy ban cấp cho 388 cá nhân, qua xem xét thì trong đó có tên Huỳnh Thị N1, sinh năm 1958, cấp theo chỉ thị 299. Việc cấp này chưa đầy đủ.

Từ những căn cứ trên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan Văn V trình bày: Tại công văn ngày 28-11-2023 của Ủy ban nhân dân huyện G thể hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N1 là đúng trình tự, thủ tục quy định, hiện tại chưa có văn bản nào xác định việc cấp giấy đất là sai. Căn nhà nằm trên đất do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn đất của ông L3 sử dụng nằm phía trong.

Phía nguyên đơn cho rằng ông L3 bà L cho bà N1 ở nhờ nhưng không có căn chứng minh là ở nhờ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật: Xét thấy, Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện các bên đã có quá trình sinh sống, quản lý, sử đụng đất. Việc Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị N3 là chưa có cơ sở. Bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Thị L, bị đơn bà Nguyễn Thị N làm trong hạn luật định. Bà L đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, bà N là người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí nên các đơn kháng cáo trên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Phan Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng phần đất diện tích 2.600 m² (đo thực tế 2.086,9 m²) thuộc các thửa 3813, 3814, 3815 tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh cho bà và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Huỳnh Thị N1 (Nguyễn Thị N3) đối với các thửa đất trên.

Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và

thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điều 35; Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Thị L, bị đơn bà Nguyễn Thị N, nhận thấy:

[3.1] Đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích 2.600m² tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh:

Về nguồn gốc đất tranh chấp:

Các bên đương sự thống nhất là của cha mẹ ông Nguyễn Văn L3 là cụ Nguyễn Văn X và cụ Đỗ Thị T để lại, chưa kê khai đăng ký.

Tại Biên bản xác minh ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh huyện G có nội dung: Diện tích đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2.600 m², thuộc các thửa 3813, 3814, 3815, bao gồm có diện tích đường đất. Qua áp bản đồ theo chỉ thị 299 thì các thửa 3813, 3814, 3815 hiện tại là các thửa như sau: 01 phần của thửa 288; thửa 294; thửa 295 và thửa 305.

Qua đối chiếu với sơ đồ đo đạc thực tế, diện tích đất tranh chấp là 2.086,9 m². Trong đó, 01 phần thửa 288 có diện tích là 664,4 m² + thửa 295 có diện tích là 333,2 m² + thửa 294 có diện tích là 296,7 m² + thửa 305 có diện tích là 792,6 m². Theo các Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 22/01/2022 và ngày 21/8/2023, trên đất hiện có căn nhà tường của ông L3, bà L xây dựng năm 2012, diện tích 195,05 m², trị giá 209.982.832 đồng, công trình phụ xây dựng năm 2012, trên 10 năm không định giá. Trị giá đất là 4.144.623.500 đồng và các cây trái khác.

Về quá trình sử dụng đất hợp pháp:

Nguồn gốc đất là của cha mẹ ruột ông Nguyễn Văn L3 nhưng chưa kê khai đăng ký. Thực tế vợ chồng bà N3 có sinh sống ở trên đất tại căn nhà tranh của ông L3. Thời điểm đó ông L3 đi làm ăn xa, không trực tiếp quản lý sử dụng canh tác trên đất. Đến năm 2000 bà N3 chết, ông Lê Văn N2 chồng bà N3 tiếp tục sử dụng đất. Năm 2002 ông L3 bà L về sinh sống trên đất. Đến năm 2008 ông N2 được xây nhà tình thương trên 01 phần đất khác với vị trí căn nhà tranh mà bà N3 và ông N2 sinh sống. Sau đó đến năm 2012 ông L3 và bà L xây nhà tường kiên cố trên đất, toàn bộ cây trái trên đất do gia đình ông L3 bà L trồng và thu hoạch.

Phía nguyên đơn cho rằng ông L3 cho vợ chồng bà N3 ở nhờ đến hết đời vì bà N3 ông N2 không có con, phía bị đơn cho rằng đất là của ông bà ngoại để lại cho mẹ bà N3 rồi mẹ bà N3 cho lại bà N3 nhưng các bên đều không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh.

Như vậy, có căn cứ xác định gia đình ông L3 bà L và ông N2 bà N3 cùng quản lý sử dụng đất. Trong suốt quá trình các bên sử dụng đất không có ranh đất rõ ràng, trong thời gian dài mà không ai có ý kiến phản đối. Khi chính quyền địa phương xây nhà tình thương cho ông N2 (thời điểm này bà N3 đã chết) thì phía gia đình ông L3, bà L cũng không phản đối.

Quá trình thu thập chứng cứ có đủ căn cứ xác định vợ chồng bà N3 ở tại căn nhà tranh của ông L3 (hiện tại hư hỏng không còn), tại vị trí là ở phía sau căn nhà

tường hiện tại là thửa 305. Do đó, bà N3 được quyền sử dụng trọn thửa 305, diện tích 792,5 m². Các thửa đất còn lại bà N3 không sử dụng mà do ông L3 bà L quản lý, sử dụng, bà N3 chỉ sử dụng thửa 305 trong các thửa đất tranh chấp. Tuy nhiên, bà N3 đã chết, bà N và người thuộc hàng thừa kế của bà N3, ông N2 (nếu có), được quyền tranh chấp và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu. Các thửa đất còn lại do ông L3 bà L quản lý sử dụng cần giao cho bà L đại diện. Người thuộc hàng thừa kế của ông L3 nếu có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

[3.2] Đối với căn nhà tình thương được xây dựng bằng gạch không tô năm 2008 đến khi ông N2 chết năm 2018 đến nay bỏ hoang không ai sử dụng, giá trị còn lại không đáng kể do xây dựng trên 10 năm không định giá được.

[3.3] Xét về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh, thấy rằng:

Theo văn bản số 2393/UBND-NC ngày 28-11-2023 của Ủy ban nhân dân huyện G có nội dung: “ Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... cho bà N3 là đúng theo quy định của pháp luật về đất đai”; Tại văn bản số 3311/VPĐKĐĐ –CNGD ngày 25-9-2023 thể hiện: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .... cho bà Huỳnh Thị N1 hiện tại chỉ còn lưu quyết định cấp giấy của UBND huyện G số 159/UB-QĐ ngày 12-5-1996 kèm theo danh sách các hộ gia đình cá nhân được cấp giấy chứng nhận trong đó có tên bà Huỳnh Thị N1”.

Như vậy, qua sao lục hồ sơ đăng ký đất đai tại cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lưu trữ thì chỉ còn lưu giữ các tài liệu trên, phía nguyên đơn trình bày bà N1 không có đơn xin đăng ký là chưa có cơ sở. Việc chỉnh lý tên và năm sinh tại trang 4 là thủ tục hành chính, không làm thay đổi bản chất của việc cấp giấy chứng nhận.

Do đó, không có căn cứ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02228 ngày 12-5-1996 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho bà Huỳnh Thị N1 được chỉnh lý trang 4 tên Nguyễn Thị N3, sinh năm 1959 mà chỉ cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 05-12-1996 cho bà Huỳnh Thị N1 (có điều chỉnh trang 4) cho phù hợp với quyết định của bản án này.

[4] Từ các phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào mới làm thay đổi nội dung vụ án, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Phan Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bị đơn bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Thị L.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị N.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 37; Điều 147; Điều 149; Điều 155; Điều 156; Điều 157; Điều 158; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 165; Điều 166; Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 255, Điều 258 của Bộ luật Dân sự 2005

Căn cứ Điều 5; Điều 166; Điều 167; Điều 203 của Luật Đất đai.

Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị L đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N về Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
    • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L về yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02228 QSDD/450804 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị N1 vào ngày 05-12-1996 có điều chỉnh trang 4.
    • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Phan Thị L đối với bà Nguyễn Thị N.

Bà Phan Thị L được quyền sử dụng 03 thửa đất liền kề: Thửa 288 diện tích là 664,4 m², thửa 294 diện tích là 296,7 m², thửa 295 diện tích là 333,2 m². Mục đích sử dụng: Đất ruộng màu (ĐRM) và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất. Tứ cận đất như sau:

  • Hướng Bắc giáp thửa 289 dài 19,03 m + 11,52m;
  • Hướng Nam giáp đất giao cho bà N thửa 305 dài 32,97 m;
  • Hướng Đông giáp thửa 530, 293;
  • Hướng Tây giáp đường đất dài 3,26m + 21,24 m + 18,98 m.

Bà Nguyễn Thị N được quyền sử dụng thửa 305 diện tích là 792,6 m² và cây trái trên đất. Mục đích sử dụng: Đất ruộng màu (ĐRM), có tứ cận:

  • Hướng Bắc giáp thửa 294, 295 dài 32,97 m;
  • Hướng Nam giáp đất mương nước dài 32,97 m;
  • Hướng Đông giáp thửa 293 dài 2,28 m + 21,95 m;
  • Hướng Tây giáp đường đất dài 24,76 m;

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về đất đai điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 927176, số vào sổ cấp GCN: 02228 QSDĐ/450804 ngày 05-12-1996 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị N1 đứng tên (có điều chỉnh trang 4) diện tích 2.600m² thuộc các thửa 3813, 3814, 3815 tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh cho phù hợp với quyết định của bản án này.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Phan Thị L phải nộp án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 469 ngày 15/8/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà L đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.

Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn bà Nguyễn Thị N.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Mạnh Cường Trần Thị Hòa Hiệp Vương Minh Tâm

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vương Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1027/2024/DS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 1027/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Láng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger