|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1027/2023/HC-PT Ngày: 30 - 11 - 2023 V/v: Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Long
Ông Phan Đức Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20/11 và 30/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 643/2023/TLPT-HC ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc: “Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 65/2023/HC-ST ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2746/2023/QĐPT ngày 16 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Viết T, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Số C B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Duyên A - Luật sư thuộc Công ty L1; Địa chỉ: E N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân thành phố V;
Địa chỉ: H đường L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Huỳnh Anh T1 - Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố V. (có mặt)
- Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V;
Địa chỉ: I đường T, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Hà Thị B - Chuyên viên Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V. (có mặt)
- Ủy ban nhân dân thành phố V;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ban quản lý Rừng phòng hộ tỉnh B;
Địa chỉ: Số A đường B tháng D, Phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
Người đại diện theo ủy quyền:
- + Ông Lê Trung K - Phó giám đốc Ban Q. (có mặt)
- + Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1982 - Phụ trách trạm quản lý bảo vệ rừng khu vực I. (có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án)
- + Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985, viên chức phòng quản lý bảo vệ rừng. (có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án)
- Ủy ban nhân dân xã L, thành phố V;
Địa chỉ: Thôn A, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Nguyễn Quang N- Công chức Địa chính - Xây dựng xã L. (có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án).
- Bà Bùi Thanh V, sinh năm 1967; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã L thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1968; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã L thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Ban quản lý Rừng phòng hộ tỉnh B;
Người kháng cáo: Ủy ban nhân dân thành phố V
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện trình bày:
Năm 2002, ông Trần Viết T nhận chuyển nhượng diện tích 28.107m² đất tại thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 với tại xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của bà Bùi Thanh V. Sau khi nhận chuyển nhượng thì gia đình ông T có sử dụng để nuôi trồng thủy sản ổn định và không tranh chấp từ đó cho đến nay.
Ngày 31/3/2022, ông Trần Viết T làm Đơn xin cấp GCNQSD đất (GCNQSD đất) tại thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 với diện tích 28.107m² tại xã L thành phố V.
Ngày 28/4/2022, ông T nhận được Văn bản số 1748/CN-VPĐKĐĐ của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V về việc chưa giải quyết hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại xã L thành phố V, với lý do:
Toàn bộ diện tích đất xin cấp GCNQSD đất của ông T nằm trong Quyết định số 6264/QĐ-UB và 6271/QĐ-UB ngày 05/8/2002 của UBND tỉnh B, giao về UBND thành phố V quản lý.
Ngày 07/01/2021, UBND thành phố V có Văn bản số 54/UBND-TNMT, về việc không tiếp nhận hồ sơ tại các khu vực có hồ sơ vướng, nổi cộm tại các địa bàn của thành phố V, trong đó có xã L.
Từ những căn cứ trên, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V, thông báo cho ông T đến nhận lại hồ sơ xin cấp GCNQSD đất là chưa phù hợp với quy định pháp luật.
Ông T không đồng tình về việc giải quyết của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V. Ngày 28/4/2022, ông làm Đơn khiếu nại gửi trực tiếp đến UBND thành phố V.
Ngày 05/5/2022, ông T nhận được Văn bản số 3841/UBND-VP của UBND thành phố V về việc hướng dẫn ông gửi đơn khiếu nại đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V để được giải quyết.
Việc làm trên là trái với quy định của nhà nước, cụ thể:
- Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V, chỉ là một cơ quan tham mưu cho UBND thành phố V về việc xin cấp GCNQSD đất. Nên không có quyền quyết định trả lại hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận của ông, đây là thẩm quyền thuộc UBND thành phố V.
Tại Khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai 2013 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp huyện (Thành phố trực thuộc tỉnh) cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.”
Theo Nghị định số 124/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 19/10/2020, Quy định chi tiết một số Điều và biện pháp thi hành Luật khiếu nại. Tại Điều 13, 15 của thì UBND thành phố V chính là cơ quan thẩm quyền giải quyết Đơn khiếu nại của ông.
Ngày 11 tháng 4 năm 2023 ông nhận được Văn bản số 2114/UBND-TNMT ngày 07-4-2023 của UBND thành phố V về việc trả lời đơn ông Trần Viết T tại phường N, thành phố V kiến nghị liên quan đến hồ sơ cấp GCNQSDĐ tại xã L, thành phố V, với nội dung: Qua lồng ghép bản đồ thì toàn bộ diện tích 28.107m² đất nêu trên nằm trong ranh giới đất rừng được thể hiện tại các Quyết định số 313/QĐ-UBND ngày 17/02/2020, 7606/QĐ.UB ngày 15/8/2003, QĐ số 6264/QĐ.UB ngày 05/8/2002, QĐ số 2670/QĐ.UB ngày 11/04/2002, 1662/QĐ.UB ngày 20/7/1998, QĐ số 773/QĐ.UB ngày 03/4/1998 của UBND tỉnh B; QĐ số 1619/QĐ.UB ngày 09/9/2002 của U; QĐ số 1814/QĐ.UBT ngày 25/12/1978 của UBND tỉnh Đ (cũ).
Việc Ủy ban nhân dân thành phố V, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V ban hành các công văn nêu trên ảnh hưởng quyền và lợi ích của ông.
Nay ông Trần Viết T đề nghị Tòa án giải quyết:
- - Tuyên hủy Văn bản số 2114/UBND-TNMT ngày 07-4-2023 của Ủy ban nhân dân thành phố V, về việc trả lời đơn của ông Trần Viết T tại phường N, thành phố V kiến nghị liên quan đến hồ sơ cấp GCNQSD đất tại xã L, thành phố V.
- - Tuyên hủy Văn bản số 1316/CN.VPĐKĐĐ ngày 05-4-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V về việc chưa giải quyết hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại xã L, thành phố V.
- - Tuyên hủy Văn bản số 1748/CN.VPĐKĐĐ ngày 28-4-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V về trả hồ sơ cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại xã L, thành phố V.
- - Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V tiếp tục giải quyết hồ sơ cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích khoảng 28.107m² tọa lạc tại xã L, thành phố V cho ông.
- - Tuyên bố hành vi của Ủy ban nhân dân thành phố V không giải quyết hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Trần Viết T đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích khoảng 28.107m² tọa lạc tại xã L, thành phố V là trái pháp luật.
- - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V giải quyết hồ sơ cấp và cấp GCNQSD đất ông T đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích khoảng 28.107m² tọa lạc tại xã L, thành phố V.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố V và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày:
- Đối với ý kiến yêu cầu khởi kiện của ông Trần Viết T.
- Tuyên hủy Văn bản số 2114/UBND-TNMT ngày 07/4/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc trả lời đơn của ông Trần Viết T tại phường N, thành phố V kiến nghị liên quan đến hồ sơ cấp GCNQSD đất tại xã L, thành phố V.
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V giải quyết hồ sơ cấp và cấp GCNQSD đất cho ông Trần Viết T đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích khoảng 28.107m² tọa lạc tại xã L, thành phố V.
- Kết quả kiểm tra, xác minh
Ngày 31/3/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố V tiếp nhận hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông T. Diện tích đề nghị cấp giấy chứng nhận là 28.107m² tại thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 (cũ) thuộc xã L, thành phố V.
Theo kê khai trong đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận thì đất có nguồn gốc của mẹ là bà Bùi Thanh V khai phá trước năm 1975 khoảng 50.000 m² đến năm 2002 nhượng lại cho cho ông Trần Viết T khoảng 30.000m2. Đến 16/6/2009, UBND thành phố cấp 12.000m² theo giấy chứng nhận số AO 352899. Ngày 27/6/2014, UBND thành phố V thu hồi 10.109m² làm đường vào hóa dầu L.
Căn cứ Văn bản số 1316/CN.VPĐKĐĐ ngày 05/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố V về việc chưa giải quyết hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại xã L, thành phố V và qua xem xét hồ sơ, tài liệu liên quan, Phòng T nhận thấy:
Đối chiếu Bản đồ số hóa và lồng ghép do Trung tâm K1 lập ngày 26/10/2018, được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh kiểm tra xác nhận ngày 07/11/2018, thì toàn bộ diện tích 28.107m2 đất ông T đề nghị cấp giấy chứng nhận thể hiện nằm trong Quyết định số 6264/QĐ-UB ngày 05/8/2002 của UBND tỉnh B về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND thành phố V để thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp; Đồng thời nằm trong Quyết định số 1619/QĐ-UB ngày 09/9/2002 của UBND thành phố V về việc giao rừng và đất Lâm nghiệp nằm ngoài quy hoạch lâm nghiệp cho UBND xã L quản lý.
Liên quan đến diện tích đất rừng: Ngày 25/12/1978, UBND tỉnh Đ (cũ) ban hành Quyết định số 1814/QĐ.UBT thành lập Nông trường C trực thuộc Ty lâm nghiệp Tỉnh Đồng Nai (cũ), tổng diện tích rừng và đất rừng của Lâm trường 17.928 ha. Ngày 03/4/1998, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 773/QĐ.UB phê duyệt dự án đầu tư “Rừng phòng hộ ven biển Vũng Tàu - T” (theo Chương trình 327). Trong đó có địa giới hành chính xã L, thành phố V. Dự án được giao cho Ban Q làm chủ đầu tư. Ngày 20/7/1998, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 1662/QĐ.UB giao 2.115ha đất tại khu vực L, thành phố V cho dự án Vũng Tàu - T để triển khai xây dựng rừng phòng hộ theo Chương trình 327.
Ngày 13/3/2002, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 1591/QĐ.UB thành lập Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh B trên cơ sở hợp nhất các dự án trồng rừng phòng hộ thuộc Chương trình 327 của tỉnh, bao gồm dự án N - T, dự án núi M, dự án Vũng Tàu - T, dự án Đ - S.
Ngày 11/4/2002, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2670/QĐ.UB phê duyệt công trình đầu tư xác định ranh giới cắm mốc các loại rừng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trong đó thành phố V có diện tích 2.986ha.
Ngày 05/8/2002, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 6264/QĐ.UB về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND thành phố V để thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp. Tại Điều 1 có nội dung: “Nay giao rừng và đất lâm nghiệp đã xác định mốc giới cho UBND thành phố V để thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn với diện tích 1.314ha thuộc khu vực rừng ngập mặn và phòng hộ đầu nguồn xã L, bao gồm 175ha rừng phòng hộ đồi núi L2 (khu vực núi N) và 1.139ha rừng ngập mặn ven biển B, G”. Trên cơ sở Quyết định số 6264/QĐ.UB của UBND Tỉnh, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 1619/QĐ.UB ngày 09/9/2002 giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND xã L để thực hiện trách nhiệm Quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp.
Ngày 15/8/2003, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 7606/QĐ.UB phê duyệt dự án đầu tư xây dựng rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2002-2010. Ngày 17/02/2020, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 313/QĐ-UBND Phê duyệt đề án tăng cường quản lý đối với đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn Tỉnh.
- Nhận xét:
Như vậy, diện tích đất mà ông Trần Viết T đăng ký xin cấp GCNQSD đất nằm trong ranh giới đất rừng phòng hộ từ năm 1978 được thể hiện tại các Quyết định hành chính: Quyết định số 1814/QĐ.UBT Ngày 25/12/1978; Quyết định số 773/QĐ.UB ngày 03/4/1998; Quyết định số 1662/QĐ.UB ngày 20/7/1998; Quyết định số 6264/QĐ.UB, ngày 05/8/2002; Quyết định số 2670/QĐ.UB ngày 11/04/2002; Quyết định số 1619/QĐ.UB ngày 09/9/2002; Quyết định số 7606/QĐ.UB ngày 15/8/2003 nêu trên đang còn hiệu lực. Do đó, trường hợp của ông Trần Viết T không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 5 Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
- Quan điểm của Ủy ban nhân dân Thành phố V.
Từ những chứng cứ trên, Ủy ban nhân dân thành phố V đề nghị Tòa án: Bác toàn bộ đơn khởi kiện của ông Trần Viết T. Giữ nguyên Văn bản số 2114/UBND-TNMT ngày 07/4/2023 của UBND thành phố V về việc trả lời đơn của ông Trần Viết T tại thành phố V.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người bị kiện Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày:
Ngày 31/3/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp nhận hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Trần Viết T. Theo đó, ông T đề nghị cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 (cũ), diện tích 28.107m² tại xã L, thành phố V.
Thẩm tra hồ sơ, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhận thấy, toàn bộ diện tích đề nghị cấp giấy chứng nhận thể hiện thuộc khu vực có Quyết định số 6264/QĐ-UB ngày 05/8/2002 của UBND tỉnh B, giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND thành phố V để thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp và Quyết định số số 6271/QĐ-UB ngày 05/8/2002 của UBND tỉnh B, giao rừng và đất lâm nghiệp nằm ngoài quy hoạch lâm nghiệp cho UBND thành phố V quản lý, bảo vệ và sử dụng.
Liên quan đến đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì ngày 06/3/2020, Sở T3 có Văn bản số 1127/STNMT-CCQLĐĐ, báo cáo kiến nghị UBND Tỉnh: Giao UBND thành phố V căn cứ Bản đồ số hóa và lồng ghép do Trung tâm K1 lập ngày 26/10/2018, được Văn phòng Đ kiểm tra xác nhận ngày 07/11/2018, thực hiện rà soát thống kê chi tiết hiện trạng sử dụng đất, đối tượng sử dụng đất, cơ sở pháp lý (diện tích đất đã cấp giấy, diện tích đất các hộ đang sử dụng có nguồn gốc hợp pháp, diện tích đất lấn chiếm, diện tích đất rừng...) đề xuất phương án sử dụng đất (đối với phần diện tích đã giao cho UBND thành phố V quản lý theo Quyết định số 6271/QĐ-UB ngày 05/8/2002) trình UBND Tỉnh phê duyệt. Sau khi UBND thành phố V có báo cáo kết quả rà soát và đề xuất, giao Sở T3 chủ trì phối hợp với các Sở ngành có liên quan trình UBND Tỉnh phê duyệt theo quy định.
Ngày 18/12/2020, Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố V có Thông báo 5779/TB-TNMT kết luận buổi làm việc với UBND các phường, xã và các cơ quan, đơn vị liên quan về việc rà soát đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố V. Theo đó, kết luận như sau:
“1. Thống nhất sử dụng Bản đồ số hóa và lồng ghép do Trung tâm K1 lập ngày 26/10/2018, đã được Văn phòng Đ kiểm tra xác nhận ngày 07/11/2018 và kết quả rà soát các thửa đất của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V tại Văn bản số 3932/CNVPĐK-KTĐC ngày 18/5/2020 để làm cơ sở rà soát.
2. UBND các Phường và xã L tiếp tục rà soát, tổng hợp các hồ sơ pháp lý, hiện trạng sử dụng, đề xuất phương án sử dụng đất, báo cáo đến Phòng T trước ngày 15/01/2021.
3. Trên cơ sở báo cáo của UBND các phường và xã L, Phòng T sẽ tham mưu UBND thành phố V thành lập Tổ rà soát với sự tham dự của Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V, Phòng Kinh tế, các đơn vị liên quan làm cơ sở tham mưu UBND Thành phố để xuất phương án sử dụng đất đến UBND tỉnh B”.
Tuy nhiên đến nay, UBND Thành phố chưa đề xuất phương án sử dụng đất đến UBND tỉnh B.
Ngày 07/01/2021, UBND thành phố V có Văn bản số 54/UBND-TNMT về việc chấn chỉnh, tăng cường công tác giải quyết cấp GCNQSD đất trên địa bàn thành phố V. Theo đó, UBND thành phố V chỉ đạo cán bộ phụ trách phối hợp với Phòng T, UBND các phường, xã (khoanh vùng và phân loại hồ sơ) tại các khu vực có hồ sơ vướng, nổi cộm đã có báo cáo, kiến nghị UBND tỉnh để kịp thời thông tin đến người dân; không tiếp nhận hồ sơ tại khu vực này.
Do đó, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ra Văn bản số 1316/CN.VPĐKĐĐ ngày 05/4/2022, đề nghị ông T nhận lại hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận, và Văn bản số 1748/CN.VPĐKĐĐ ngày 28/4/2022, trả lời đơn kiến nghị của ông T với nội dung như trên là đúng theo tinh thần chỉ đạo của Sở T3 và UBND thành phố V. Do đó, nay không có cơ sở để hủy các văn bản nêu trên của Chi nhánh Văn phòng Đ, và không có cơ sở để Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tiếp tục giải quyết hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận của ông Trần Viết T; đề nghị Tòa án bác toàn bộ đơn khởi kiện của ông Trần Viết T.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh B trình bày:
Qua đối chiếu ranh giới khu đất với Bản đồ ranh giới và mốc bảng các loại rừng được phê duyệt theo Quyết định số 2670/QĐ.UB ngày 11/4/2002 của UBND tỉnh về việc phê duyệt công trình đầu tư xác định ranh giới cắm mốc các loại rừng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì toàn bộ diện tích đất 28.107 m² thuộc thửa đất số 82 (cũ) 2, 4, 172, 173, 174 (mới), tờ bản đồ số 09 (cũ) 103 (mới) tại xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do ông Trần Viết T sử dụng nằm trong ranh giới rừng phòng hộ được giao quản lý và nằm trong Quyết định 6264/QĐ.UB ngày 05/8/2022 về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND thành phố V để thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp. Quá trình thành lập và quản diện tích rừng và đất phòng hộ được các cơ quan, đơn vị Nhà nước thực hiện quản lý liên tục từ năm 1977 cho đến nay. Cụ thể như sau:
Ngày 09/7/1977, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 555/QĐ.UBT, theo đó tại Điều 1 của Quyết định có ghi “nay thành lập Lâm trường quốc doanh Lòng Tàu trực thuộc Ty L nằm trong địa phận huyện L và Thành phố V”. Điều 2 của Quyết định có ghi “Vị trí ở toạ độ từ 10°27′ đến 10° 29' vĩ Bắc và từ 106° 50' đến 106° 59' Κ.
+ Bắc giáp tỉnh lộ 319, Đông giáp Quốc lộ A, Tây giáp sông Đ, Nam giáp Vịnh G.
+ Diện tích rừng và đất rừng khoảng 19.300 ha, trong đó có 14.100 ha để trồng lại rừng”.
Ngày 25/11/1978, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 1814/QĐ.UBT theo đó tại Điều 1 của Quyết định có ghi “nay thành lập Lâm trường C2 trực thuộc Ty L tỉnh Đồng Nai”.
Điều 2 của Quyết định có ghi “Tổng diện tích rừng và đất rừng của Lâm trường là 17.928 ha. Gồm 4 khu vực: Núi T, núi D: 4.068 ha; Rừng sát: 5.120 ha; Khu Hắc Dịch: 4.218 ha; Khu X: 4.522 ha.
Và tại khoản 2, Điều 1 của Quyết định có ghi: Khu vực Rừng sát:
- Toạ độ từ 107° đến 107° 7' Kinh Đông; và từ 10°26′ đến 10° 31′ 20” vĩ Bắc. Ranh giới: Phía Bắc từ bờ sông T theo rạch ngã 4 sông M, qua ấp Hội thanh, ngã 3 Rạch tre cắt thẳng ra sang Sông rạch Rạng ven theo rạch này sang phía Đông tái ấp L. Phía Đ là sông M, phía Nam là biển, phía Tây là sông Cái Mép.
- Diện tích: 5.120 ha, trong đó đất trồng rừng cạn là 339 ha, đất trồng rừng Đ1 là 4.781 ha".
Ngày 11/12/1978, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 1737/QĐ-UBT, theo đó tại Điều 1 Quyết định có ghi “Nay đổi tên Lâm Trường L Tàu thuộc Ty Lâm nghiệp thành Lâm trường L”, và Điều 2 Quyết định có ghi “Phần diện tích rừng sát thuộc địa phận huyện C do Lâm trường Lòng Tàu quản lý trước đây nay bàn giao lại cho Lâm trường C2"
Như vậy, diện tích quy hoạch rừng đước của Lâm trường C2 quản lý trên địa bàn huyện C có nguồn gốc là rừng sát do Lâm trường L3 (Lâm trường quốc doanh Lòng Tàu) thuộc Ty Lâm nghiệp tỉnh Đ quản lý từ năm 1977.
Ngày 23/6/1990, UBND huyện C ban hành Quyết định số 777/QĐ-UBH theo đó tại Điều 1 Quyết định có ghi “Tách bộ phận quản lý Rừng đước và toàn bộ diện tích quy hoạch rừng đước thuộc Lâm trường Châu thành đang quản lý, sáp nhập vào Công ty T4 và đổi tên thành Công ty nuôi trồng Thủy sản huyện C".
- Quyết định số 773/QĐ.UB ngày 03/04/1998 của UBND tỉnh B-VT về việc phê duyệt dự án đầu tư: Rừng phòng hộ ven biển Vũng Tàu - T (theo chương trình 327).
- Quyết định số 1662/QĐ.UB ngày 20/7/1998 của UBND tỉnh B-VT về việc giao 2.115 ha đất tại khu vực L, TP V cho dự án Vũng Tàu - T để triển khai xây dựng rừng phòng hộ theo chương trình 327.
- Quyết định số 1591/QĐ.UB ngày 12/3/2002 của UBND tỉnh B-VT về việc thành lập Ban quản lý Rừng phòng hộ tỉnh B-VT.
- Quyết định số 2670/QĐ.UB ngày 11/4/2002 của UBND tỉnh B-VT về việc phê duyệt công trình đầu tư xác định ranh giới cắm mốc các loại rừng trên địa bàn tỉnh BR-VT. Ban hành kèm theo bản đồ ranh giới và mốc bảng các loại rừng do Phân viện điều tra và quy hoạch rừng Miền Nam xác lập.
- Quyết định số 7606/QĐ.UB ngày 15/8/2003 của UBND tỉnh B-VT về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng rừng phòng hộ tỉnh BR-VT giai đoạn 2002-2010. Diện tích đất rừng phòng hộ là 13.700 ha.
- Quyết định 6264/QĐ.UB ngày 05/8/2022 về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND thành phố V để thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp.
Như vậy, diện tích canh tác của hộ ông Trần Viết T nằm trong ranh giới rừng phòng hộ, trước đây đã được xác lập từ năm 1977 (Lâm trường Lòng Tàu) và Nhà nước quản lý xuyên suốt, liên tục cho đến nay theo những văn bản pháp lý trên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã L trình bày:
Ngày 31/3/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp nhận hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Trần Viết T. Theo đó, ông T đề nghị cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 (cũ), diện tích 28.107m2 tại xã L, thành phố V. Ngày 05/4/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ đã có Văn bản số 1316/CN.VPĐKĐĐ trả hồ sơ cấp GCNQSD đất của ông T do diện tích đề nghị cấp giấy thuộc khu vực đất Lâm nghiệp.
Do hồ sơ cấp GCNQSD đất của ông Trần Viết T không được chuyển đến UBND xã L để thực hiện xác minh nguồn gốc đất theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ nên UBND xã L không có hồ sơ về nguồn gốc đất của ông T để cung cấp theo yêu cầu của Tòa án nhân dân. Trong các nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Trần Viết T. UBND xã L đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện đối với nội dung “...Buộc UBND thành phố V giải quyết hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Trần Viết T đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09, diện tích 28.107m²...” do UBND xã L chưa tiếp nhận và thực hiện xác minh nguồn gốc đất theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thanh V trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất khoảng 30.000m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V, nằm trong cùng thửa đất có diện tích khoảng hơn 50.000m² của mẹ bà V, là bà Nguyễn Thị D khai phá khoảng năm 1978 đến khoảng năm 1987 cho bà V. Sau đó bà và ông Nguyễn Văn C1 (là chồng bà V) sử dụng ổn định nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2002 thì chuyển nhượng cho ông Trần Viết T sử dụng ổn định. Sau khi bà chuyển nhượng cho ông T diện tích đất nêu trên, ông T đã nộp hồ sơ yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSD đất nhưng đến nay vẫn chưa được cấp GCNQSD đất, nên bà V đứng ra kê khai đất thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V đóng tiền thuế sử dụng đất, kê khai các loại giấy tờ trong sổ mục kê, tài liệu địa chính thay ông T. Sau khi bà chuyển nhượng đất cho ông T, thì đã bàn giao đất cho ông T sử dụng, quyền sử dụng diện tích đất nêu trên đã thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T. Nay bà xác nhận không tranh chấp với ông T đối với diện tích đất khoảng 28.107m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V và không có yêu cầu gì trong vụ án nêu trên. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSD đất cho ông T. Bà đề nghị cho bà vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử vụ án nêu trên, tại Tòa án nhân dân các cấp. Xin vắng mặt tại các cơ quan có thẩm quyền.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C1 trình bày:
Ông Nguyễn Văn C1 là chồng bà Bùi Thanh V. Nguồn gốc diện tích đất diện tích đất khoảng 30.000m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V, nằm trong cùng thửa đất diện tích đất khoảng hơn 50.000m² của mẹ vợ ông là bà Nguyễn Thị D khai phá khoảng năm 1978 đến khoảng năm 1987 cho riêng bà V. Sau đó bà V sử dụng ổn định nuôi trồng thủy sản, đến năm 2002 thì chuyển nhượng cho ông Trần Viết T.
Sau khi bà V chuyển nhượng cho ông T diện tích đất nêu trên, ông T đã nộp hồ sơ yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSD đất nhưng đến nay vẫn chưa được cấp GCNQSD đất, nên bà V đứng ra kê khai đất thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V đóng tiền thuế sử dụng đất, kê khai các loại giấy tờ trong sổ mục kê, tài liệu địa chính thay ông T. Sau khi bà V chuyển nhượng đất cho ông T, thì đã bàn giao đất cho ông T sử dụng, quyền sử dụng diện tích đất nêu trên đã thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T. Nay ông C1 xác nhận không tranh chấp với ông T đối với diện tích đất khoảng 28.107m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V và không có yêu cầu gì trong vụ án nêu trên. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSD đất cho ông T. Ông C1 đề nghị vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử vụ án nêu trên, tại Tòa án nhân dân các cấp. Xin vắng mặt tại các cơ quan có thẩm quyền.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 65/2023/HC-ST ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;
Áp dụng: Khoản 2 Điều 48 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ; Khoản 5 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ;Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Viết T:
- - Hủy Văn bản số 2114/UBND-TNMT ngày 07-4-2023 của Ủy ban nhân dân thành phố V, về việc trả lời đơn của ông Trần Viết T tại phường N, thành phố V kiến nghị liên quan đến hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã L, thành phố V.
- - Hủy Văn bản số 1316/CN.VPĐKĐĐ ngày 05-4-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V về việc chưa giải quyết hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại xã L, thành phố V.
- - Hủy Văn bản số 1748/CN.VPĐKĐĐ ngày 28-4-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V về trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại xã L, thành phố V.
- - Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích khoảng 28.107m² tại xã L, thành phố V cho ông Trần Viết T.
- - Tuyên bố hành vi của Ủy ban nhân dân thành phố V không giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Viết T đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích khoảng 28.107m² tại xã L, thành phố V là trái pháp luật.
- - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện nhiệm vụ giải quyết hồ sơ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích đất khoảng 28.107m² tại xã L, thành phố V cho cho ông Trần Viết T; diện tích đất và thửa đất cụ thể do cơ quan có thẩm quyền xác định khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 07/7/2023 Ủy ban nhân dân thành phố V kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ủy ban nhân dân thành phố V tranh luận: Uỷ ban xác nhận phần diện tích đất mà ông T xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm trong ranh giới rừng phòng hộ. Việc này đã được thể hiện qua bản đồ, quá trình thực hiện cắm mốc trải qua các khâu theo đúng thủ tục. Tuy nhiên, việc cắm mốc được thực hiện từ năm 2002 và có việc chuyển giao trong công tác quản lý nên các toạ độ cũng có nhiều thay đổi. Việc nắm bắt thông tin gặp nhiều khó khăn và thiếu sót.
Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh B: Ban quản lý xác định phần đất này nằm trong phần đất rừng phòng hộ, đề nghị HĐXX xem xét huỷ bản án sơ thẩm. Khu vực rừng phòng hộ L thuộc quyền quản lý của Ban quản lý phòng hộ tỉnh B, có biên bản được chính quyền địa phương xác nhận về việc cắm mốc trên thực địa. Hồ sơ ông T đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không trùng khớp với bản vẽ, phần đất mà ông sử dụng nằm trong đất rừng phòng hộ đang quản lý.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Đề nghị Tòa án xem xét, không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử phúc thẩm vụ án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Về nội dung: Người bị kiện kháng cáo không cung cấp được tài liệu mới chứng minh. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến tranh luận của các bên đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
[1] Về tố tụng:
Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện: Cấp sơ thẩm đã xác định đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
[2] Về nội dung:
Nguồn gốc diện tích khoảng 28.107m² tại xã L, thành phố V ông T xin cấp giấy chứng nhận là một phần trong diện tích 50.107 m² thửa 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V của bà Nguyễn Thị D là mẹ của bà Bùi Thanh V khai phá và sử dụng trước năm 1987. Đến khoảng năm 1987 để lại cho bà V, bà V sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản. Năm 1995 bà V đăng ký sổ mục kê xã L tổng diện tích là 50.107 m² đất nuôi trồng thủy sản. Nguồn gốc đất như trên được UBND xã L xác nhận ngày 30/6/2008 tại “Biên bản xác minh nguồn gốc đất” lập ngày 24/6/2008, có sơ đồ vị trí đính kèm.
Gia đình bà V sử dụng đất ổn định đến ngày 09/12/2002 bà V lập “Giấy sang nhượng đất dùng” cho ông Trần Viết T diện tích khoảng 30.000m². Ông T sử dụng nuôi trồng thủy sản ổn định liên tục cho đến nay, không có tranh chấp.
Ngày 16/6/2009 bà Bùi Thanh V, ông Nguyễn Văn C1 được cấp Giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích 12.000m² đất thuộc thửa đất nêu trên.
Đến nay ông T chưa được cấp GCNQSD đất diện tích đất trên, nên bà V đứng ra kê khai đất cả phần đất chuyển nhượng cho ông T thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V đóng tiền thuế sử dụng đất, kê khai các loại giấy tờ trong sổ mục kê, tài liệu địa chính thay ông T.
Sau khi bà V chuyển nhượng đất cho ông T, bà V đã bàn giao đất cho ông T sử dụng ổn định. Nay bà Bùi Thanh V và ông Nguyễn Văn C1 (là chồng bà V) xác nhận không tranh chấp với ông T đối với diện tích đất khoảng 28.107m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V và không có yêu cầu gì trong vụ án nêu trên; đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSD đất cho ông T.
Xét thấy: Diện tích 28.107m² đất tại thửa 82 tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V ông Trần Viết T xin cấp Giấy CNQSDĐ có nguồn gốc khai phá sử dụng từ trước năm 1987, sử dụng ổn định, liên tục, không có tranh chấp, không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngăn cản hay xử lý vi phạm hành chính về hành vi lấn chiếm đất.
Hồ sơ xin cấp giấy GCNQSDĐ của ông T thể hiện như sau:
- - Tại phiếu ý kiến khu dân cư ngày 10/11/2008 của UBND xã L đối với nguồn gốc thời điểm sử dụng đất thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L đã thống nhất kết luận “Đất do bà Bùi Thanh V canh tác từ năm 1987 cho đến nay, năm 1995 bà Bùi Thanh V đăng ký trong sổ mục kê”.
- - Tại xác nhận UBND xã L ngày 18/12/2008 có nội dung: Thửa đất trên tại thôn A, xã L thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 với diện tích 12.000m² đất nuôi trồng thủy sản. Đất do bà Bùi Thanh V tự khai phá và canh tác từ năm 1987 cho đến nay, năm 1995 bà Bùi Thanh V đăng ký trong sổ mục kê, bà Bùi Thanh V trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
- - Tại xác nhận của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố V xác nhận ngày 15/6/2009 có nội dung: Đất khai phá và sử dụng từ năm 1987 có đăng ký đăng kê trong hồ sơ địa chính. Đủ điều kiện cấp giấy CNQSD đất diện tích 12.000m² đất nuôi trồng thủy sản.
Đến 16/6/2009, UBND thành phố cấp giấy CNQSD đất số AO 352899 với diện tích 12.000m² cho bà Bùi Thanh V, ông Nguyễn Văn C1.
- Tại Trích biên bản về việc xét công nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân tại xã L phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư (Công trình đường vào Khu công nghiệp Đ) ngày 23/5/2014, UBND xã L kết luận: Thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L do bà Bùi Thanh V canh tác từ năm 1987, năm 1995 bà Bùi Thanh V đăng ký trong sổ mục kê. Đến ngày 30/6/2008 được UBND xã L xác minh nguồn gốc đất cho bà V với diện tích 50.107m² đất nuôi trồng thủy sản.
Như vậy, phần đất ông T nhận chuyển nhượng của bà V, có chung nguồn gốc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, do bà V canh tác từ năm 1987 liên tục đến nay không ai tranh chấp, không bị các cơ quan xử lý vi phạm đất đai. Bà V đã có Đơn xin cấp GCNQSD đất từ ngày 24/6/2008 (sau này là ông T); thời điểm này Luật đất đai năm 2003 đang có hiệu lực thi hành nên áp dụng Khoản 2 Điều 48 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ quy định:
“2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được cấp GCNQSD đất đối với phần diện tích đất không có giấy tờ khi có đủ các điều kiện sau:
a) Đất không có tranh chấp;
b) Đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt; trường hợp đất được sử dụng sau thời điểm quy hoạch, .... thì phải phù hợp với quy hoạch hoặc kế hoạch đó. Thời điểm sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận;
Vì vậy ông T, đủ điều kiện cấp GCNQSD đất với diện tích đất khoảng 28.107m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V theo khoản 2 Điều 48 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ; Khoản 5 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ.
Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V trả hồ sơ, không cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Trần Viết T với lý do: Toàn bộ diện tích đất đề nghị cấp giấy chứng nhận của ông Trần Viết t thuộc khu vực có Quyết định số 6264/QĐ-UB và 6271/QĐ-UB ngày 05/8/2002 của UBND tỉnh B-VT về việc giao rừng và đất lâm nghiệp nằm ngoài quy hoạch lâm nghiệp cho UBND thành phố V quản lý, đồng thời nằm trong Quyết định 1619/QĐ-UB ngày 09/9/2002 của UBND thành phố V về việc giao rừng và đất lâm nghiệp nằm ngoài quy hoạch lâm nghiệp cho UBND xã L quản lý là không có căn cứ pháp luật.
Bởi lẽ, các Quyết định số 6264/QĐ-UB và Quyết định 6271/QĐ.UB của UBND tỉnh, Quyết định 1619/QĐ-UB ngày 09/9/2002 của UBND thành phố V đều được ban sau thời điểm sử dụng đất trên 15 năm (từ 1987 đến 2002), nhưng người sử dụng đất không nhận được thông báo thu hồi đất, không nhận được quyết định thu hồi đất và không được bồi thường về đất là không đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất theo quy định. Mặt khác, khi nhận hồ sơ xin cấp giấy CNQSD đất của ông T, chi nhánh VPĐKĐĐ đã không tiến hành các bước xác minh nguồn gốc quá trình sử dụng đất mà trả hồ sơ ngay cho ông T là trái với quy định tại khoản 3 Điều 70 Nghị định 43/2014 của chính phủ quy định về trình tự thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy CNQSD đất.
Đối việc trả hồ sơ xin cấp giấy CNQSD đất của Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ thành phố V, Ủy ban nhân dân thành phố V đã không xem xét giải quyết mà hướng dẫn ông T khiếu nại đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V là không đúng quy định Luật Khiếu nại và Luật đất đai.
Ngày 7/04/2023 UBND thành phố V ban hành Văn bản số 2114/UBND-TNMT ngày 7/4/2023 của UBND thành phố V “V/v trả lời đơn ông Trần Viết T tại phường N, thành phố V liên quan đến hồ sơ cấp GCNQSDĐ tại xã L, thành phố V”. Theo đó, UBND thành phố V trả lời trường hợp của ông T không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định tại khoản 5 Điều 19 Nghị định số 43/2014 của Chính phủ.
Như đã phân tích ở trên, diện tích ông Trần Viết T xin cấp giấy có nguồn gốc khai phá và sử dụng ổn định liên tục vào mục đích nuôi trồng thủy sản từ năm trước năm 1987 đến nay, được UBND xã L xác nhận có đăng ký sổ mục kê xã năm 1995; không có tranh chấp, không bị ngăn cản hay xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất trái phép, không có quyết định của cơ quan nhà nước về việc thu hồi đất. Do đó, UBND thành phố V không xem xét cấp giấy chứng nhận QSD đất và trả lời ông T không đủ điều kiện cấp giấy CNQSD đất là không có căn cứ pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.
Đối với ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ban Q cho rằng diện tích đất canh tác của hộ ông Trần Viết T nằm trong ranh giới đất rừng phòng hộ được Nhà nước giao cho Ban quản lý rừng từ năm 1977 đến nay. Tuy nhiên các quyết định mà Ban quản lý rừng cung cấp không đảm bảo tính pháp lý, hầu hết là tài liệu phô tô không có sao y, có tài liệu không đóng dấu của cơ quan đơn vị (Quyết định số 555/QĐ-UBT ngày 9/7/1977 về thành lập lâm trường quốc doanh Lòng Tàu trực thuộc Ty lâm nghiệp nằm trong địa phận của huyện C và thành phố V) hoặc không có tên người ký và không đóng dấu (Quyết định 1814/QĐ-UBT ngày 25/12/1978 của UBND tỉnh Đ về thành lập lâm trường C thuộc ty Lâm nghiệp tỉnh Đ); đồng thời cũng không có tài liệu chứng cứ thể hiện việc triển khai đo đạc, cắm mốc và bàn giao đất rừng cho cơ quan đơn vị quản lý. Mặt khác, thực tế thì người trực tiếp quản lý, sử dụng đối với 50.107m tại thửa đất số 82 tờ bản đồ số 09 xã L, thành phố V từ năm 1987 đến nay là bà Bùi Thanh V và ông Trần Viết T, mục đích sử dụng đất là nuôi trồng thủy sản, có đăng ký kê khai tại hồ sơ địa chính xã L. Quá trình sử dụng đất của bà V rồi đến ông T đều không có cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ngăn cản hay xử lý vi phạm. Do đó không có cơ sở xác định về việc quản lý và sử dụng đất của Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh B-VT đối với diện tích đất ông T đang yêu cầu cấp giấy.
Như vậy, Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện hủy Văn bản số 1316, Văn bản số 1748, Văn bản số 2114. Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V và UBND thành phố V thực hiện nhiệm vụ công vụ cấp GCNQSD đất cho ông T với diện tích đất khoảng 28.107m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 09 tại xã L, thành phố V là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất ý kiến Viện kiểm sát nhân dân cấp cao không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện. Tuy nhiên phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên: “Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích khoảng 28.107m² tại xã L, thành phố V cho ông Trần Viết T.
Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện nhiệm vụ giải quyết hồ sơ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích đất khoảng 28.107m² tại xã L, thành phố V cho cho ông Trần Viết T; diện tích đất và thửa đất cụ thể do cơ quan có thẩm quyền xác định khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật” là không đúng theo Điều 193 Luật tố tụng hành chính. Nên HĐXX điều chỉnh lại cách tuyên.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của người bị kiện không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố V.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;
Áp dụng: Khoản 2 Điều 48 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ; Khoản 5 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ;
Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Viết T:
- - Hủy Văn bản số 2114/UBND-TNMT ngày 07-4-2023 của Ủy ban nhân dân thành phố V, về việc trả lời đơn của ông Trần Viết T tại phường N, thành phố V kiến nghị liên quan đến hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã L, thành phố V.
- - Hủy Văn bản số 1316/CN.VPĐKĐĐ ngày 05-4-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V về việc chưa giải quyết hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại xã L, thành phố V.
- - Hủy Văn bản số 1748/CN.VPĐKĐĐ ngày 28-4-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V về trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại xã L, thành phố V.
- - Tuyên bố hành vi của Ủy ban nhân dân thành phố V không giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Viết T đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 9, diện tích khoảng 28.107m² tại xã L, thành phố V là trái pháp luật.
- - Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V và Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định.
2. Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Trần Viết T không phải nộp; trả lại 300.000đ tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000400 ngày 21/9/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho ông Trần Viết T. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V và Ủy ban nhân dân thành phố V mỗi đương sự phải nộp 300.000 đồng.
II. Về án phí phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố V phải chịu 300.000 đồng án phí được khấu trừ vào tạm ứng án đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006160 ngày 17/7/2023 Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vũng Tàu xác nhận nộp đủ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |
Bản án số 1027/2023/HC-PT ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 1027/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Viết T kiện UBND thành phố V về việc Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - y án sơ thẩm
