|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1026/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-11-2023
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Nga
- Bà Phan Thị Dòn
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Minh Thuận.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 652/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 về việc "Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 571/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 474/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim N, sinh năm 1986.
Địa chỉ: D T, ấp E, xã L, H. B, TP ..
- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: D T, ấp E, xã L, H. B, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn – Bà Trần Thị Kim N trình bày:
Tôi và ông T sống chung với nhau có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 128 ngày 20/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, TP ..
Vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2021, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không còn hòa hợp, không yêu thương, lo lắng, chăm sóc cho nhau, ông T thường xuyên ăn chơi bên ngoài. Tôi không còn tình cảm với ông T.
- Về con chung: yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Trần Khánh V, sinh năm 2020, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Trước đây con sống chung với tôi và ông T tại địa chỉ: D T, ấp E, xã L, H. B, TP .. Đến cuối năm 2021 thì ông T mê ăn chơi, lúc ở nhà lúc đi nên con chủ yếu ở với tôi và do tôi chăm sóc nuôi dưỡng là chính.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn – Bà Trần Thị Kim N vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
* Bị đơn – Ông Nguyễn Xuân T vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Kim N khởi kiện xin ly hôn với Ông Nguyễn Xuân T, đây là tranh chấp về ly hôn. Ông Nguyễn Xuân T cư trú tại huyện B. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Nguyễn Xuân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt. Bà Trần Thị Kim N vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim N và Ông Nguyễn Xuân T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 128 ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, TP .. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa Bà Trần Thị Kim N và Ông Nguyễn Xuân T là vợ chồng hợp pháp.
[4] Theo Bà Trần Thị Kim N xác định:
Vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2021, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không còn hòa hợp, không yêu thương, lo lắng, chăm sóc cho nhau, ông T thường xuyên ăn chơi bên ngoài. Bà N không còn tình cảm với ông T.
Trước đây con sống chung với bà N và ông T tại địa chỉ: D T, ấp E, xã L, H. B, TP .. Đến cuối năm 2021 thì ông T mê ăn chơi, lúc ở nhà lúc đi nên con chủ yếu ở với bà N và do bà N chăm sóc nuôi dưỡng là chính.
[5] Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải giữa Bà Trần Thị Kim N và Ông Nguyễn Xuân T, nhưng không tiến hành hòa giải được.
[6] Căn cứ vào Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng”.
[7] Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
[8] Xét thấy, vợ chồng không còn yêu thương nhau, không còn tình cảm là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được.
Xét quyền lợi về mọi mặt của con, hiện nay con Nguyễn Trần Khánh V, sinh năm 2020 chủ yếu ở với bà N và do bà N chăm sóc nuôi dưỡng là chính.
[9] Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Kim N.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim N được ly hôn với Ông Nguyễn Xuân T.
(theo Giấy chứng nhận kết hôn số 128 ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, TP .)
Về con chung: Bà Trần Thị Kim N được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Trần Khánh V, sinh năm 2020. Ghi nhận việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Trần Thị Kim N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ chung: Bà Trần Thị Kim N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0020097 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Trần Thị Kim N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết,
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Kim N.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim N được ly hôn với Ông Nguyễn Xuân T.
(theo Giấy chứng nhận kết hôn số 128 ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, TP .)
Về con chung: Bà Trần Thị Kim N được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Trần Khánh V, sinh năm 2020. Ghi nhận việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Trần Thị Kim N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ chung: Bà Trần Thị Kim N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0020097 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Trần Thị Kim N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Hải |
Bản án số 1026/2023/HNGĐ-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1026/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
