Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1026/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15-8-2024

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Xuân Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

  • - Bà Phạm Thị Ngọc;
  • - Ông Huỳnh Văn Bé;

Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà:

Bà Võ Hà Anh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi (số G đường Tỉnh lộ 8, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 305/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 362/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 410/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc G, sinh năm 1991; địa chỉ: Số E đường F ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số C đường T, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Đỗ Minh S, sinh năm 1984; địa chỉ: Số E đường F ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Trần Ngọc G trình bày:

Bà Trần Ngọc G và ông Đỗ Minh S tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 142/2010, quyển 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/8/2010).

Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, ông S có tính ngang ngược, vũ phu, nói tục, chửi thề đánh đập vợ con, lúc nào cũng cho mình là đúng, ngoài ra ông S còn bài bạc, nợ nần, nhậu nhẹt. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, vì vậy bà G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho bà với ông S để rõ ràng về mặt pháp lý.

Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Gia B, sinh ngày 02/02/2012; Đỗ Gia H, sinh ngày 10/10/2013. Bà G yêu cầu được trực tiêp nuôi dưỡng 02 con chung tên Đỗ Gia B, sinh ngày 02/02/2012; Đỗ Gia H, sinh ngày 10/10/2013 và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại phiên tòa bà G trình bày: Bà G vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày, bà xác định không còn tình cảm với ông S, đề nghị Hội đồng xét xử cấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu ý kiến:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng.

- Về nội dung:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Ngọc G.
  • + Về Con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 chấp nhận giao 02 chung tên Đỗ Gia B, sinh ngày 02/02/2012 và Đỗ Gia H, sinh ngày 10/10/2013 cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng.
  • + Về cấp dưỡng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng 4.000.000 đồng theo đơn khởi kiện.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Do nguyên đơn không có yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

* Bị đơn ông Đỗ Minh S trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm thụ lý, hòa giải xét xử và tại phiên tòa vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án không thu thập được ý kiến trình bày của ông S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật:

Bà Trần Ngọc G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với ông Đỗ Minh S. Tại thời điểm bà G khởi kiện thì ông Đỗ Minh S đang cư trú tại huyện C. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Đỗ Minh S đến lần thứ 2, nhưng ông S vẫn vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Bà Trần Ngọc G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đỗ Minh S với lý do tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy, giữa bà G và ông S có phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, bà G cho rằng ông S có tính ngang ngược, vũ phu, nói tục, chửi thề, đánh đập vợ con, lúc nào cũng cho mình là đúng, ngoài ra ông S còn bài bạc, nợ nần, nhậu nhẹt. Việc bà G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông S với lý do giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được là có cơ sở. Căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[2.2] Về yêu cầu giải quyết nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con:

  • - Về yêu cầu nuôi con: Bà Trần Ngọc G yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là trẻ Đỗ Gia B, sinh ngày 02/02/2012; Đỗ Gia H, sinh ngày 10/10/2013 và không yêu cầu ông S cấp dưỡng. Ông S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không thu thập được ý kiến của ông S về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nguyên vọng của trẻ B và trẻ H muốn được sống chung với bà G. Nhận thấy, bà Giàu có việc làm, thu nhập ổn định, việc bà G yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cho bà G nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện kinh tế của bà G, phù hợp với điều kiện phát triển bình thường của trẻ, tránh việc thay đổi cuộc sống sinh hoạt, học tập của hai trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Ngọc G.
  • - Về cấp dưỡng: Tại đơn khởi kiện bà G yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con 4.000.000đồng/tháng (mỗi con 2.000.000đ/tháng). Tuy nhiên, trong quá trình hòa giải, cũng như tại phiên tòa, bà G xác định không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Ngọc G xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong phần quyết định.

[3]. Xét ý kiến của bị đơn: Bị đơn ông Đỗ Minh S trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm thụ lý, hòa giải xét xử và tại phiên tòa vắng mặt không rõ lý do, Tòa án không thu thập được ý kiến trình bày của ông S. Nên Hội đồng xet xử căn cứ vao lời trinh bay và chứng cứ co trong hồ sơ vu an để chấp nhận yêu cầu cua nguyên đơn.

[4] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi: Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Trần Ngọc G được ly hôn với ông Đỗ Minh S, giao con chung là trẻ Đỗ Gia B, sinh ngày 02/02/2012 và trẻ Đỗ Gia H, sinh ngày 10/10/2013 cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng trẻ B, trẻ H cũng như yêu cầu của bà G, ghi nhận sự tự nguyện của bà G không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con đồng thời đề nghị đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà G do bà G không yêu cầu ông S cấp dưỡng. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ sở chấp nhận.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn là bà Trần Ngọc G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc G.
    • - Bà Trần Ngọc G được ly hôn với ông Đỗ Minh S.
    • Giấy chứng nhận kết hôn số 142/2010, quyển 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/8/2010 không còn giá trị pháp lý.
    • - Về con chung: Giao bà Trần Ngọc G trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là trẻ Đỗ Gia B, sinh ngày 02/02/2012 và trẻ Đỗ Gia H, sinh ngày 10/10/2013. Ghi nhận sự tự nguyện của bà G không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
    • Ông Đỗ Minh S được quyền thăm nom con, không ai được cản trở ông S thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
    • - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo đơn khởi kiện của bà Trần Ngọc G. Các đương sự có quyền yêu cầu khởi kiện về việc cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
  3. Về án phí:
    • Bà Trần Ngọc G phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019573 ngày 19/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà Trần Ngọc G đã nộp đủ tiền án phí.
    • Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  4. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THAHNGĐ huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Diệp Xuân Hà

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1026/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1026/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger