|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI *&*--- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc **&* |
Bản án số:1025/2022/HS-PT
Ngày: 05.12.2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chử Phương Ngọc.
Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thanh Huyền.
Bà Vũ Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 05.12.2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 763/2023/TLPT-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2023/HSST ngày 29.8.2023 của TAND huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Bùi Tiến N - Sinh năm: 1991, tại H nay Hà Nội.
HKNKTT và nơi ở: Thôn K, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Bùi Văn N1 (chết) và bà Nguyễn Thi C; Có vợ là Phan Thị L, có 01 con sinh năm 2017; Bị bắt, tạm giam từ ngày 21.4.2023. Hiện đang tạm giam tại Trại giam S của Công an Thành phố H.
Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Văn C1- Luật sư Đoàn luật sư Thành phố H. Công tác tại Văn phòng luật sư Chính P.
Có mặt.
- Ngoài ra còn có bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Bùi Tiến N và anh em anh Bùi Xuân T là anh em họ. Trước đó giữa hai gia đình có mâu thuẫn do tranh chấp một phần đất tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 8, tại thôn K, xã T (sau đây gọi tắt là thửa đất số 87).
Khoảng 12 giờ ngày 11.12.2022, Bùi Tiến N đến phần đất của gia đình đang sử dụng tại thửa đất số 87 thì phát hiện 04 khóm tre do N trồng trước đó bị nhổ mất. Nhất nghi ngờ cho rằng gia đình anh T đã nhổ 04 khóm tre nên N vào trong căn nhà kho được xây trên thửa đất số 87 lấy một con dao (dạng dao rựa) đi sang phần đất của gia đình anh T đang sử dụng thuộc thửa đất số 87 rồi chặt hạ 20 cây bưởi và 02 cây nhãn. Sau khi chặt cây xong, N cài dao vào xe máy rồi đi về nhà.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, anh Bùi Xuân T đang ở nhà thì được anh Bùi Văn T1 là anh em họ cho biết vườn bưởi của anh T bị N chặt hạ. Sau đó, T đã cùng các em ruột là Bùi Xuân T2, Bùi Xuân H đi đến vườn bưởi của gia đình. Khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, khi đến nơi, anh H gọi điện cho bị cáo N hỏi lý do tại sao chặt cây thì xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại với nhau trên điện thoại. Lúc này, bị cáo N đang ở nhà liền điều khiển xe máy, con dao Nhất sử dụng để chặt cây vẫn cài trên xe đi đến thửa đất số 87. Tại đây, N cầm dao ở tay phải đứng cách các anh H, T, T2 khoảng 20m và tiếp tục lời qua tiếng lại với anh H. Sau đó, anh H và anh T đi tiến về phía bị cáo N, đang đi thì anh T bị vấp cành cây ngã nên vục dậy và đi sau cách anh H khoảng 07m. Thấy vậy, bị cáo N cũng đi tiến về phía anh H và chuyển dao sang cầm tay trái rồi tay phải nhặt gạch ném về phía anh H, anh T nhưng không trúng. Khi anh H đi đến gần N thì N dùng tay trái cầm dao chém và khua nhiều phát về phía anh H khiến anh H bị thương ở vùng tai, môi, cằm, cổ, ngực, đùi. Thấy vậy, anh T, anh T2 liền chạy đến can ngăn, N bỏ chạy ra cổng. Nhất chạy được khoảng 20m thì bị anh T2 đuổi kịp giữ lại và giằng được con dao trên tay N. Anh H, anh T chạy đến đấm, đá vào người Nhất khoảng 2- 3 phát thì hàng xóm xung quanh can ngăn. Sau đó, N đi về nhà.
Anh H bị thương được đưa đến bệnh viện Đa khoa huyện T cấp cứu rồi đi đến bệnh viện T3 để điều trị. Đến ngày 14.12.2022 thì ra viện.
Tại Biên bản làm việc xác định thương tích ban đầu ngày 11.12.2022 của
Công an xã T với Bệnh viện Đ, xác định khi vào viện anh H bị các thương tích sau:
- - Vết thương rách tai bên trái dài 04cm, bờ gọn;
- - Vết thương cổ bên trái dưới dái tai 05cm, kích thước 03cm X 0,5cm, bờ nham nhở (vết thương nông);
- - Vết thương môi trên 1,5cm, bờ nham nhở;
- - Vết thương môi dưới 02cm, sâu 01 cm, bờ nham nhở;
- - Vết xước da vùng cằm 03 cm.
- - Vết sây sát da nông vùng ngực trái kích thước 4cm x (02cm - 04cm), trên diện bầm tím da kích thước 6cm x 2,5cm.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) con dao (dạng dao rựa) dài 40cm, chuôi dao bằng gỗ dài 09cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 31 cm.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 140/GĐ-TTPY ngày 14.02.2023 và Văn bản ngày 07.8.2023 của Trung tâm P1, kết luận:
“ - Vết thương rách tai bên trái: 03%;
- Vết thương vùng cổ: 01%;
- Vết thương môi trên: 03%;
- Vết thương môi dưới: 03%;
- Vết xước da vùng cằm: 1,5%.
- Vết sây sát da nông ngực trái: 0,5%.
Các vết thương, vết sây sát da của anh Bùi Xuân H có tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 11% (mười một phần trăm). Tổn thương do vật tày có cạnh, vật có cạnh sắc gây nên.”
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 30.01.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: “ 20 (Hai mươi) cây bưởi và 02 (Hai) cây nhãn bị chặt phá có tổng giá trị 5.902.800đồng (năm triệu chín trăm linh hai ngàn tám trăm đồng)
Trong quá trình xô sát, Bùi Tiến N bị Bùi Xuân H, Bùi Xuân T có hành vi đấm 2-3 phát vào người nhưng không để lại thương tích gì. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích nhưng N có đơn từ chối giám định thương tích.
Đối với Bùi Xuân H và Bùi Xuân T có hành vi xô sát đấm 2, 3 phát vào người N nhưng không gây thương tích. Hành vi của H, T không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự nhưng đã vi phạm vào điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Xuân H, Bùi Xuân T về hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác.
Đối với Bùi Xuân T2 là người đi cùng Bùi Xuân H và Bùi Xuân T đến giải quyết mâu thuẫn với bị cáo N. Tại đây, anh T2 không có hành vi chửi bới, đuổi đánh N mà có hành vi can ngăn khi N, H, T xảy ra xô xát nên
Về dân sự: Bùi Tiến N đã bồi thường cho anh H 5.000.000đồng, anh T 10.000.000đồng theo thỏa thuận. Anh H và anh T có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt đối với N.
Bản cáo trạng số 82/CT- VKS ngày 25.7.2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Tiến N về tội Cố ý gây thương tích và tội Hủy hoại tài sản theo điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2022/HSST ngày 29.8.2023 của TAND huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội đã quyết định: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 178, Điều 38, Điều 54, Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Tiến N 15 (mười lăm) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; 03 (ba) tháng tù về tội Hủy hoại tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cả 02 tội là 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21.4.2023.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05.9.2023 bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày:
Đối với tội Hủy hoại tài sản: Bị cáo đã nhận ngay khi trưởng thôn hỏi, các cây này đang trồng trên đất của gia đình bị cáo, gia đình bị cáo vẫn sử dụng và đóng thuế đất toàn bộ, trong đó có 02 cây nhãn là của bị cáo, mong HĐXX xem xét cho bị cáo.
Đối với tội Cố ý gây thương tích: Bị cáo không cố ý gây thương tích, lúc đó có 3 người đập phá tài sản của bị cáo, bị cáo có dùng dao nhưng không chém, do bị cáo sợ bị đánh nên vừa chạy vừa khua dao về phía sau vào anh H, mục đích là để các anh không chạy đuổi bị cáo nữa.
Tuy nhiên sự việc xảy ra không ai muốn, bị cáo và bị hại vẫn là anh em trong nhà, bị cáo hiện là lao động chính, có mẹ già và con nhỏ nên mong HĐXX xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị HĐXX: Về hình thức đơn kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận. Về nội dung: Khoảng 12 giờ ngày 11.12.2022, tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 8 ở thôn K, xã T, huyện T, Bùi Tiến N có hành vi dung dao chặt hạ 20 cây bưởi và 02 cây
nhãn của gia đình anh Bùi Xuân H và anh Bùi Xuân T, trị giá 5.902.800đồng. Sau đó, khoảng 16 giờ cùng ngày, khi ba anh em Bùi Xuân T, Bùi Xuân H và Bùi Xuân T2 đến thửa đất trên để giải quyết việc cây bị chặt. Tại đây Bùi Tiến N đã có hành vi dung dao gây thương tích cho anh Bùi Xuân H tỷ lệ thương tích 11%. Như vậy, Tòa án huyện T xử phạt bị cáo về các tội Cố ý gây thương tích và Hủy hoại tài sản là có căn cứ. Tòa án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và Điều 54 – BLHS xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và 03 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản là phù hợp. Tại phiên tòa bị cáo không xuất trình thêm tài liệu gì mới nên không có cơ sở xem xét yêu cầu của bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 366 – BLTTHS bác yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên tội danh và hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo trình bày:
- Về tội danh không nhất trí.
- Các căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo:
- + Tội Cố ý gây thương tích: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 – BLHS, HĐXX áp dụng Điều 54 – BLHS nhưng vẫn xử phạt 15 tháng tù là cao, chưa phù hợp với việc áp dụng pháp luật. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ chưa xem xét là sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã ra xã khai báo là đầu thú, bị cáo thời gia phục vụ trong quân đội. Đề nghị HĐXX áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ xử phạt bị cáo mức 06 tháng tù là phù hợp.
- + Tội Hủy hoại tài sản: Tại phiên tòa sơ thẩm bị hại cũng xác định 02 cây nhãn không phải của mình nên giảm giá trị tài sản, tuy nhiên HĐXX xử phạt bị cáo 03 tháng là phù hợp.
- Đề nghị HĐXX hủy một phần bản án sơ thẩm vì: Trong tội Cố ý gây thương tích chưa làm rõ tương quan lực lượng thì H, T2, T có thể chất cao to hơn bị cáo, bị cáo khai bị đánh nên mới bỏ chạy, do vậy yêu cầu thực nghiệm điều tra về vấn đề này. Nếu xác định có việc bị đánh thì hành vi khua dao và bỏ chạy của bị cáo thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng nên tỷ lệ thương tích 11% thì bị cáo không phạm tội. Bị cáo khai khua dao 2 – 3 phát rồi rơi dao, nếu dao gây thương tích thì dao phải có vết máu nhưng kết quả giám định không có và xác định thương tích do vật tày có cạnh sắc gây ra, vậy vết thương có phải do dao gây ra, vết thương của anh H không phải do một mình bị cáo gây ra, nội dung này chưa được làm rõ. Hồ sơ giám định không đầy đủ do không có bản ảnh, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, hồ sơ bệnh án, trong khi tỷ lệ thương tích là 11% là con số quan trọng xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do vậy, đề nghị HĐXX hủy một phần bản án án hình sự sơ thẩm và thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bị cáo, để xác định các vấn đề sau: Hành vi của bị cáo
có thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng hay không, các vết thương có phải do một mình bị cáo gây ra hay không, vật chứng là vật tày có cạnh sắc là vật nào, xác định vết máu trên dao để giám định.
Tại phần tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát Thành phố Hà Nội có ý kiến trước khi dùng dao chém thì bị cáo đã ném gạch bị hại, bị hại đuổi thì bị cáo mới bỏ chạy nên không thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng. Về thương tích thì đã có văn bản giải thích của cơ quan giám định, tại phiên tòa sơ thẩm giám định viên có mặt để làm rõ. Tại thời điểm xô sát chỉ có bị cáo và bị hại, anh H khai không bị ngã nên các thương tích của bị hại là do bị cáo gây ra. Tỷ lệ thương tích 11% là hoàn toàn khách quan nên không có căn cứ giám định lại thương tích. Về tình tiết đầu thú thì 15 giờ bị hại biết sự việc cây bị chặt, 16 giờ trưởng thôn hỏi thì bị cáo mới nhận nên không có cơ sở áp dụng.
Người bào chữa đối đáp xác định tại phiên tòa sơ thẩm là cán bộ chứ không phải giám định viên nên không biết rõ các vấn đề. Về nội dung thì xác định có hành vi phạm tội là có căn cứ, tuy nhiên có vi phạm nghiêm trọng tố tụng nên đề nghị HĐXX hủy một phần bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo đã tuân thủ đúng theo quy định về chủ thể, thủ tục và thời hạn kháng cáo tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Do có mâu thuẫn về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại từ trước tại thửa đất số 87 tờ bản đồ số 2 ở thôn K, xã T, khoảng 12 giờ ngày 11.12.2022, khi bị cáo đến thửa đất số 87 thì thấy các khóm tre của mình bị nhổ bỏ, do nghi ngờ gia đình bị hại nhổ tre nên bị cáo có hành vi sử dụng dao chặt phá 20 cây bưởi và 02 cây nhãn của gia đình bị hại với tổng giá trị là 5.902.800đồng. Đến 18 giờ cùng ngày, khi gia đình bị hại gồm các anh T2, H và T đến thửa đất 87 thì giữa bị cáo và bị hại xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, khi cãi nhau bị cáo đã cầm sẵn dao dạng dao dựa ở tay, bị cáo đã ném gạch về phía bị hại, khi bị hại đuổi thì bị cáo dùng dao khua chém về phía bị hại, tại thời điểm đó chỉ có bị cáo dùng dao và anh H bị gây thương tích do tiếp sát với bị
cáo, bên cạnh đó vết thương theo kết luận giám định cũng phù hợp với hung khí bị cáo sử dụng nên đủ cơ sở xác định bị cáo là người gây thương tích cho anh H và hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng. Mặc dù không có thực nghiệm điều tra nhưng căn cứ vào lời khai của bị cáo phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận bị cáo sử dụng dao gây thương tích tỷ lệ 11% cho bị hại. Do vậy, không có cơ sở chấp nhận ý kiến của luật sư bào chữa.
Tòa án huyện T đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, giá trị tài sản xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và 03 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản là phù hợp. Tại phiên tòa bị cáo không xuất trình thêm tài liệu gì mới nên không có căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bác yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Tiến N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2023/HSST ngày 29.8.2023 của Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Tiến N 15 (mười lăm) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; 03 (ba) tháng tù về tội Hủy hoại tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cả 02 tội là 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21.4.2023.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đồng.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chử Phương Ngọc |
Bản án số 1025/2022/HS-PT ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích và hủy hoại tài sản
- Số bản án: 1025/2022/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích và Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BTN - CYGTT
