Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1023/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Như

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Đẹp
  2. Bà Huỳnh Thị Phương Trinh

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 172/2024/TLST - DS ngày 08/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 587/2024/QĐXXST-DS ngày 15/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 402/2024/QĐST-DS ngày 05/9/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

    Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S, A P, phường B, quận A, TP . .

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hà Đăng V (có mặt)

    Địa chỉ: Tầng F, tòa nhà P, số B U, phường B, quận B, TP . (Giấy ủy quyền số 098568.23 ngày 19/7/2023)

  2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng N, sinh năm 1989 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Số F Ấp A, xã X, huyện H, TP Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản làm việc, biên bản phiên họp tiếp cận công khai tài liệu chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Q (V1) đã ký với ông Lê Hoàng N Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số 3558878.19 ngày 25/12/2019 với nội dung: VIB cho ông Lê Hoàng N vay số tiền 1.800.000.000 đồng. Mục đích vay vốn: vay bù đắp tiền mua bất động sản tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 699044, số vào sổ cấp GCN: CS01741 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/10/2017, cập nhật chuyển nhượng ngày 24/12/2019 đứng tên ông Lê Hoàng N. Thời hạn vay: 360 tháng, tính từ ngày tiếp theo ngày khoản tín dụng được giải ngân đến ngày 28/12/2049. Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân: 12,7% năm, lãi suất ngày đã được VIB chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,3%/năm. Hoàn trả gốc: hàng tháng trả 5.000.000 đồng cùng với ngày trả lãi. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 10, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 10/02/2020. Trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ.

Ngày 28/12/2019, V1 đã giải ngân cho ông Lê Hoàng N theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878 (1).19 với số tiền 1.800.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng. Căn cứ Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 21/02/2020, V1 đã cấp Thẻ tín dụng cho ông Lê Hoàng N chi tiết như sau: Số thẻ 5138920000340813. Loại thẻ: VIB Cash back V1. Hạn mức thẻ: 37.000.000 đồng. Lãi suất, phí: theo biểu phí của V1 từng thời kỳ.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ 40, địa chỉ: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 699044, số vào sổ cấp GCN: CS01741 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/10/2017, cập nhật chuyển nhượng ngày 24/12/2019 đứng tên ông Lê Hoàng N. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 14448, Quyền số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 27/12/2019. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Hoàng N đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 10/12/2022 và đang xếp loại nợ nhóm 4 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N1.

Tạm tính đến ngày 15/08/2024, ông Lê Hoàng N còn nợ Ngân hàng số tiền là: 2.303.970.787 đồng (Hai tỉ, ba trăm lẻ ba triệu, chín trăm bảy mươi nghìn, bảy trăm tám mươi bảy đồng) bao gồm: Nợ gốc: 1.630.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 193.394.274 đồng; nợ lãi quá hạn: 383.240.671 đồng; nợ lãi phạt chậm trả: 25.201.165 đồng; nợ thẻ tín dụng: 72.134.677 đồng. Do đó, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Lê Hoàng N có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định, tính đến ngày 30/9/2024, ông Lê Hoàng N đã trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 799.454.228đồng (nợ gốc là 170.000.000đồng, nợ lãi là 629.454.228đồng). Ông Lê Hoàng N còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền 2.357.963.664đồng, bao gồm: nợ gốc: 1.630.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 193.394.274đồng; nợ lãi quá hạn: 431. 926.315đồng; nợ lãi phạt chậm trả: 27.638.463đồng; nợ thẻ tín dụng: 75.004.612 đồng. Ngân hàng TMCP Q yêu cầu Toà án giải quyết:

  1. Buộc ông Lê Hoàng N phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2024 là 2.357.963.664đồng, bao gồm: Nợ gốc là 1.630.000.000đồng; nợ lãi trong hạn là 193.394.274 đồng; nợ lãi quá hạn là 431.926.315đồng; nợ lãi phạt chậm trả là 27.638.463 đồng; nợ thẻ tín dụng là 75.004.612 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 3558878.19 ngày 25/12/2019, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878(1).19 ngày 27/12/2019, Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 21/02/2020.

    Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Ngân hàng TMCP Q được tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, phí thẻ kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi ông Lê Hoàng N thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 3558878.19 ngày 25/12/2019, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878(1).19 ngày 27/12/2019, Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 21/02/2020.
  3. Trong trường hợp ông Lê Hoàng N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ 40, địa chỉ: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 699044, số vào sổ cấp GCN: CS01741 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/10/2017, cập nhật chuyển nhượng ngày 24/12/2019 đứng tên ông Lê Hoàng N. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 14448, Quyền số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 27/12/2019 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng TMCP Q. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của ông Lê Hoàng N đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng TMCP Q.
  4. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Q.
  5. Về chi phí tố tụng: Đề nghị Tòa tuyên ông Lê Hoàng N có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng chi phí tố tụng mà Ngân hàng đã tạm ứng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, tại phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản phản hồi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải và thời hạn xét xử, gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét và thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Q có đơn khởi kiện đối với ông Lê Hoàng N có địa chỉ theo đơn khởi kiện là F ấp A, xã X, huyện H, TP . và quan hệ tranh chấp này phát sinh từ tranh chấp hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

[2.1]. Bị đơn ông Lê Hoàng N đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2]. Quá trình giải quyết vụ án, theo kết quả xác minh của Công an xã X, huyện H thì ông Lê Hoàng N không đăng ký thường trú nhưng có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: F ấp A, xã X, huyện H, TP Hồ Chí Minh từ ngày 16/5/2019 đến ngày 16/5/2021 nhưng hiện tại ông N không còn ở địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh yêu cầu nguyên đơn thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định. Tuy nhiên, phía nguyên đơn xác định không cung cấp được địa chỉ cư trú hiện nay của ông Lê Hoàng N cũng như không có điều kiện để thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định. Xét, ông Lê Hoàng N vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo địa chỉ cư trú hiện nay cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Cư trú, nên địa chỉ F ấp A, xã X, huyện H, TP Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng, cũng như đương sự cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định.

[2.3]. Bị đơn ông Lê Hoàng N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; không có bất cứ ý kiến nào phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không nộp tài liệu, chứng cứ hay văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên đương sự phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ theo quy định tại Điều 91, Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu chứng cứ đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo các Hợp đồng tín dụng số 3558878.19 ngày 25/12/2019, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878(1).19 ngày 27/12/2019, Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 21/02/2020 đã ký giữa nguyên đơn và bị đơn thì khi ký kết hợp đồng, các bên hoàn toàn tự nguyện, chủ thể, hình thức, nội dung hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.

[3.1]. Theo thỏa thuận trong các Hợp đồng nêu trên thì Ngân hàng TMCP Q cho ông Lê Hoàng N vay số tiền 1.800.000.000 đồng. Mục đích vay vốn: vay bù đắp tiền mua bất động sản tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 699044, số vào sổ cấp GCN: CS01741 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/10/2017, cập nhật chuyển nhượng ngày 24/12/2019 đứng tên ông Lê Hoàng N. Thời hạn vay 360 tháng, tính từ ngày tiếp theo ngày khoản tín dụng được giải ngân đến ngày 28/12/2049. Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân: 12,7% năm, lãi suất ngày đã được Ngân hàng TMCP Q chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,3%/năm. Hoàn trả gốc: hàng tháng trả 5.000.000 đồng cùng với ngày trả lãi. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 10, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 10/02/2020. Trả phí: theo quy định của Ngân hàng TMCP Q từng thời kỳ. Ngày 28/12/2019, Ngân hàng TMCP Q đã giải ngân cho ông Lê Hoàng N theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878 (1).19 với số tiền 1.800.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên. Đồng thời nguyên đơn và bị đơn có ký Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 21/02/2020, Ngân hàng TMCP Q đã cấp Thẻ tín dụng cho ông Lê Hoàng N chi tiết như sau: Số thẻ 5138920000340813. Loại thẻ: VIB Cash back V1. Hạn mức thẻ: 37.000.000 đồng. Lãi suất, phí: theo biểu phí của Ngân hàng TMCP Q từng thời kỳ. Tính đến ngày 30/9/2024, ông Lê Hoàng N đã trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 799.454.228đồng (nợ gốc là 170.000.000đồng, nợ lãi là 629.454.228đồng).

[3.2]. Căn cứ theo thỏa thuận trong các hợp đồng nói trên, Hội đồng xét xử xét thấy, ông Lê Hoàng N đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thoả thuận trong hợp đồng, cụ thể là vi phạm thỏa thuận tại Điều 01, Điều 02 Hợp đồng tín dụng số 3558878.19 ngày 25/12/2019, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878(1).19 ngày 27/12/2019; Điều 02 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; vi phạm Điều 280 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, từ ngày 10/12/2022, Ngân hàng TMCP Q chuyển khoản vay sang nợ quá hạn và yêu cầu ông Lê Hoàng N có nghĩa vụ trả số nợ gốc còn lại là: 1.630.000.000 đồng và nợ thẻ tín dụng: 23.546.438đồng là có cơ sơ chấp nhận.

[4]. Xét yêu cầu về lãi suất: Lãi suất đã được Ngân hàng T, thực hiện theo đúng Hợp đồng, thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì đối với Hợp đồng tín dụng được xác lập kể từ ngày 01/01/2017 áp dụng các khoản lãi như sau: lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi chậm trả lãi. Như vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn là phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã giao kết và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên chấp nhận, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền lãi là: nợ lãi trong hạn là 193.394.274đồng; nợ lãi quá hạn là 431.926.315đồng; nợ lãi phạt chậm trả là 27.638.463 đồng, nợ lãi thẻ tín dụng là 51.458.174đồng.

[5] Về phương thức thanh toán: Bị đơn vắng mặt, không trình bày ý kiến, yêu cầu nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền gốc và lãi một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật có cơ sở chấp nhận.

[6] Ngoài ra, căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm: bị đơn có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã giao kết. Do đó, yêu cầu ông Lê Hoàng N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ của nguyên đơn được chấp nhận.

[7] Xét yêu cầu của nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ 40, địa chỉ: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 699044, số vào sổ cấp GCN: CS01741 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/10/2017, cập nhật chuyển nhượng ngày 24/12/2019 đứng tên ông Lê Hoàng N. Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất nói trên. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 14448, Quyền số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 27/12/2019 đồng thời đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/12/2019 cũng như quy định tại Điều 299, 317, 318, 320 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 167 Luật Đất đai năm 2003; Điều 22, Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên có căn cứ để chấp nhận.

[8]. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Hoàng N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2024 là 2.357.963.664đồng, bao gồm: nợ gốc là 1.630.000.000đồng; nợ lãi trong hạn là 193.394.274đồng; nợ lãi quá hạn là 383.240.671đồng; nợ lãi phạt chậm trả là 25.201.165đồng; nợ thẻ tín dụng: 75.004.612đồng. Đồng thời thanh toán số tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 3558878.19 ngày 25/12/2019, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878(1).19 ngày 27/12/2019, Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 21/02/2020 đã ký giữa Ngân hàng và ông Lê Hoàng N.

[9] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  • [9.1] Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 79.159.273đồng.
  • [9.2] Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  • [9.3] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 15.000.000(mười lăm triệu) đồng do ông Lê Hoàng N chịu. Ngân hàng TMCP Q đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 15.000.000đồng theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả lại cho Ngân hàng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[10]. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

[11]. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 280, 299, 317, 318, 320, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 2 Điều 24, khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng N1;

Căn cứ Điều 167 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với ông Lê Hoàng N.

    Buộc ông Lê Hoàng N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 3558878.19 ngày 25/12/2019, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878(1).19 ngày 27/12/2019, Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 21/02/2020 tính đến hết ngày 30/9/2024 là 2.357.963.664 (Hai tỷ, ba trăm năm mươi bảy triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, sáu trăm sáu mươi bốn) đồng, bao gồm: nợ gốc là 1.630.000.000đồng; nợ lãi trong hạn là 193.394.274đồng; nợ lãi quá hạn là 383.240.671đồng; nợ lãi phạt chậm trả là 25.201.165đồng; nợ thẻ tín dụng là 75.004.612đồng.

    Thi hành một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 3558878.19 ngày 25/12/2019, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878(1).19 ngày 27/12/2019, Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 21/02/2020. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kì của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Sau khi ông Lê Hoàng N thanh toán toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi nói trên thì Ngân hàng TMCP Q nghĩa vụ hoàn trả bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho người đã thế chấp đối với Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ 40, địa chỉ: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 699044, số vào sổ cấp GCN: CS01741 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/10/2017, cập nhật chuyển nhượng ngày 24/12/2019 đứng tên ông Lê Hoàng N theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 14448, Quyền số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 27/12/2019.

    Trong trường hợp ông Lê Hoàng N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm sau theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ 40, địa chỉ: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 699044, số vào sổ cấp GCN: CS01741 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/10/2017, cập nhật chuyển nhượng ngày 24/12/2019 đứng tên ông Lê Hoàng N theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 14448, Quyền số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 27/12/2019.

    Trong trường hợp số tiền phát mãi thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì ông Lê Hoàng N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

  2. Chi phí tố tụng: Ông Lê Hoàng N phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 15.000.000đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Hoàng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 79.159.273 (Bảy mươi chín triệu, một trăm năm mươi chín nghìn, hai trăm bảy mươi ba) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 33.656.624 (Ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi bốn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0024228 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp được quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND H.Hóc Môn, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS H. Hóc Môn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Quỳnh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1023/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1023/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với ông Lê Hoàng N. Buộc ông Lê Hoàng N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 3558878.19 ngày 25/12/2019, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3558878(1).19 ngày 27/12/2019; Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 21/02/2020 tính đến hết ngày 30/9/2024 là 2.357.963.664 (Hai tỷ, ba trăm năm mươi bảy triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, sáu trăm sáu mươi bốn) đồng, bao gồm: nợ gốc: 1.630.000.000đồng; nợ lãi trong hạn: 193.394.274đồng; nợ lãi quá hạn: 431.926.315đồng; nợ lãi phạt chậm trả: 27.638.463đồng; nợ thẻ tín dụng: 75.004.612đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger