|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:1022/2024/HS-PT Ngày: 20 - 11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lê Na
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Huân
Ông Trương Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Lưu Mạnh Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 972/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Đ và bị hại Ngô Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Ngô Văn Đ, sinh năm 1954; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: (không); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn B, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Ngô Văn H - sinh năm: 1930 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L - sinh năm: 1931 (đã chết); A, chị em ruột: Có 08 người, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên vợ: Dương Thị T1 - sinh năm 1955; Con: 04 con, con lớn nhất sinh năm 1975, con bé nhất sinh năm 1984;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại có kháng cáo: Ông: Ngô Văn T, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt tại phiên toà.
Vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/8/2022, Công an huyện M nhận được đơn tố giác của ông Ngô Văn T có nội dung: Ông T bị Ngô Văn Đ lừa đảo bán đất nông nghiệp để chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng năm 2019, Ngô Văn Đ có bán cho ông Ngô Văn T thửa đất nông nghiệp của hộ gia đình Đ được chia theo kế hoạch dồn điền đổi thửa của xã K có số thứ tự số 131 (nhưng thực tế thửa đất này bao gồm các thửa đất số 144a, 144a1, 144a2) thuộc xứ đồng Rừng, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội với số tiền là 248.000.000 đồng. Đăng biết được ông T vẫn có nhu cầu muốn mua đất nông nghiệp để làm trang trại chăn nuôi nên đã nảy sinh ý định lừa bán đất nông nghiệp cho ông T để chiếm đoạt tiền.
Khoảng tháng 5/2020, Đ một mình đi đến nhà ông T ở tổ dân phố X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc nói dối ông T là Đ có thửa đất nông nghiệp số 174 thuộc xứ đồng Sau, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội vị trí giáp ranh với các thửa đất số 144a, 144a1, 144a2 mà trước đó Đ đã bán cho ông T muốn bán, ông T tin là thật nên đồng ý. Sau đó, Đ dẫn ông T đến vị trí thửa đất số 110a, diện tích 450m² thuộc xứ đồng Rừng, thôn B, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội chủ sử dụng đất của bà Lê Thị Á nói dối đây là thửa đất số 174 thuộc xứ đồng Sau, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội rồi tiến hành đo đạc và xác định diện tích thửa đất này với ông T là 452m² và làm giấy biên nhận bán đất cho ông T vào ngày 11/5/2020 cho ông T để Đ chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng, lây tiền đem tiêu xài cá nhân hết. Sau khi sự việc xảy ra, ông Ngô Văn T làm đơn trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M và đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra đã thu giữ các tài liệu liên quan đến việc mua bán đất gồm: Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất cáoh tác ngày 13/11/2019; Giấy chuyển nhượng đất nông nghiệp ngày 08/05/2020 và Giấy biên nhận ngày 11/05/2020.
- Tại Kết luận giám định số: 8375/KL-KTHS ngày 19/12/2022 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Ngô Văn Đ dưới chữ ký trên “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất cáoh tác ngày 13/11/2019” (ký hiệu A1) và “Giấy chuyển nhượng đất nông nghiệp ngày 08/05/2020” (ký hiệu A2) với chữ ký, chữ viết đứng tên Ngô Văn Đ trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M4) là chữ do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Tiến T2 (Ng Tiến T3) dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) với chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Tiến T2 trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M5 đến M7) là chữ do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Dương Thị T1 dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) với chữ ký, chữ viết đứng tên Dương Thị T1 trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M8 đến M11) không phải là do cùng một người ký và viết ra”.
- Tại bản kết luận giám định số 4832/KL-KTHS ngày 30/06/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:
“Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Ngô Văn Đ dưới chữ ký trên Giấy biên nhận ngày 11/05/2020 (ký hiệu A) với chữ ký, chữ viết dòng họ tên Ngô Văn Đ dưới chữ ký trên mẫu các mẫu so sánh (Ký hiệu từ M1 đến M3) là chữ do cùng một người ký và viết ra”.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo Ngô Văn Đ đã trả lại cho ông Ngô Văn T số tiền 150.000.000 đồng tiền lừa bán đất cho ông T. Sau khi nhận tiền, ông T không có yêu cầu đề nghị gì đối với thửa đất số Đăng lừa bán cho ông T. Ngoài ra, ông T có yêu cầu Đ phải trả lại số tiền 248.000.000 đồng tiền bán các thửa đất số 144a, 144a1, 144a2 trước đó do không làm thủ tục đăng ký sang tên được cho ông Ngô Văn T.
Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo trả lại 248 triệu đồng tiền mua 03 thửa đất 144a, 144a1, 144a2 hoặc bị cáo phải để tôi sử dụng 3 thửa đất đó cho đến khi bị cáo trả đủ 248 triệu đồng cho bị hại thì bị hại sẽ trả lại 03 thửa đất đó; Phần đất thửa 110c, bị cáo lừa bán cho bị hại 150 triệu đồng, bị cáo đã trả lại đủ tiền nên bị hại không có ý kiến gì phần này.
Tại bản cáo trạng số: 105/CT-VKS ngày 30/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố bị cáo Ngô Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự .
Bản án Hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Ngô Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Ngô Văn Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã K, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Số tiền lừa đảo 150.000.000 đ (một trăm năm mươi triệu) đồng đã trả bị hại nên không xét. Số tiền 248.000.000 đ (hai trăm bốn mươi tám triệu) đồng là giao dịch chuyển quyền sử dụng đất, dành quyền khởi kiện cho ông Ngô Văn T thành vụ kiện dân sự khác.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 16/9/2024, bị cáo Ngô Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 23/6/2024, bị hại Ngô Văn T có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu bị cáo Ngô Văn Đ trả cho ông T 248.000.000 đồng và không đồng ý với mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô Văn Đ và bị hại Ngô Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại; giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Lời nói sau cùng bị cáo Ngô Văn Đ thể hiện thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Đ và bị hại Ngô Văn T đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo, bị hại trình bày lời khai như đã trình tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng tháng 5/2020, Ngô Văn Đ có hành vi đưa ra thông tin gian dối là Đ có thửa đất nông nghiệp số 174 thuộc xứ đồng Sau, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội muốn bán. Thực chất thửa đất trên của chủ sử dụng đất là bà Lê Thị Á. Đăng tiến hành đo đất và chỉ vị trí thửa đất số 110a thuộc xứ đồng Rừng, thôn B, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội và làm thủ tục bán cho ông Ngô Văn T để chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng.
Với hành vi phạm tội như trên bị cáo Ngô Văn Đ bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Đ và bị hại Ngô Văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, tích cực bồi thường thiệt hại cho người bị hại, Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, bị cáo bị thiếu máu não, di chứng đột quỵ. Tại phiên tòa sơ thẩm bị hại đề nghị Hội đồng xét xử có tính nhân văn cho bị cáo.
Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo và bị hại không xuất trình chứng cứ mới làm thay đổi tính chất vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để thay đổi mức hình phạt của bị cáo.
Về phần dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo trả cho bị hại số tiền 248.000.000 đồng. Đây là yêu cầu bị hại đã đưa ra trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm. Bản án sơ thẩm nhận định giao dịch chuyển quyền sử dụng đất liên quan đến số tiền 248.000.000 đồng là giao dịch dân sự không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đang bị xét xử nên dành quyền khởi kiện cho ông Ngô Văn T khi có yêu cầu là có căn cứ, đúng pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Đ và bị hại Ngô Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Đ và bị hại Ngô Văn T không được chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo và bị hại đều là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Đ và bị hại Ngô Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo: Ngô Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã K, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Ngô Văn Đ đã trả bị hại Ngô Văn T số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí phúc thẩm cho bị cáo Ngô Văn Đ và bị hại Ngô Văn T.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lê Na |
Bản án số 1022/2024/HS-PT ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 1022/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
