Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1022/2024/DS-PT

Ngày: 11 - 12 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,

yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử

dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất và

yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Duyên

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 515/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6969/2024/QĐPT ngày 07 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1947. Địa chỉ: Số nhà H, Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1984 và bà Lâm Thị Hằng N1, sinh năm 1988. Cùng địa chỉ liên hệ: Khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Đàm Văn S, sinh năm 1984. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

Người đại diện ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số P tòa nhà V, đường C, phường E, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Là Luật sư Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bùi Văn T. Địa chỉ: Khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh S. Vắng mặt.
  2. Ông Bùi Trung H. Địa chỉ: Khóm C, phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  3. Ông Đàm Văn K. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  4. Bà Đàm Thị M. Địa chỉ: ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  5. Bà Đàm Thạch N2. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  6. Bà Đàm Bích T1. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  7. Ông Đàm Quốc T2. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  8. Ông Đàm Văn T3. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  9. Bà Đàm Thị Hồng E. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.
  10. Bà Đàm Thị Hồng S1. Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Có mặt.
  11. Bà Đàm Thị Hồng T4. Địa chỉ: ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.
  12. Ông Đàm Văn D1. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.
  13. Ông Đàm Văn M1. Địa chỉ: ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  14. Ông Đàm Văn C. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.
  15. Bà Đàm Thị M2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  16. Bà Đàm Thị M3, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
  17. Bà Đàm Út K1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  18. Bà Đàm Út N3, sinh năm 1981. Vắng mặt.

Người giám hộ của bà N3: Ông Đàm Văn S - Là bị đơn trong vụ án. Cùng địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

  1. Ủy ban nhân dân huyện T. Địa chỉ: ấp A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện T: Ông Trần Văn C1 - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  1. Ủy ban nhân dân thị xã N. Địa chỉ: Khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thị xã N: Ông Huỳnh Anh V - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã N. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Do có kháng cáo của bị đơn - ông Đàm Văn S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo Đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngô Thị N thì vụ án có nội dung như sau:

Chồng của nguyên đơn Ngô Thị N tên Đàm Văn B (chết năm 2007) là em ruột của ông Đàm Văn M4 (chết năm 2018). Khoảng năm 1976 đến năm 1977, ông B và ông M4 có cùng nhau khai hoang phần đất thuộc thửa số 57, tờ bản đồ số 06, diện tích 14.940m², tọa lạc ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng. Phần đất này hộ ông Đàm Văn M4 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 08/02/1996. Ông B và ông M4 có thỏa thuận: Ông B canh tác 07 công tầm cấy, phần còn lại ông M4 canh tác.

Vào khoảng năm 1979, Nhà nước thực hiện chính sách nhường cơm xẻ áo, theo chỉ thị xâm canh. Nhà nước đã lấy phần đất 07 công tầm cấy của ông B đưa cho ông M4 canh tác. Đến khoảng năm 1982, Nhà nước mới trả lại đất và đã trả lại cho ông B 07 công tầm cấy như lúc ban đầu, thực hiện việc xâm canh và trả đất không có giấy tờ. Do thấy ông M4 nghèo nên khi lấy lại đất, ông B đã cho ông M4 04 công, chỉ lấy lại 03 công tầm cấy ông B để canh tác. Tuy nhiên, do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất này ông Đàm Văn M4 đã đem đi thế chấp cho Ngân hàng nên ông M4 vẫn chưa chuyển sang tên cho ông B 03 công tầm cấy này. Sau đó, ông B chết thì ông M4 có lập “Giấy xác nhận và cam kết” đề ngày 03/05/2015, ông Minh xác N4 03 công tầm cấy là của ông B và

hứa là khi nào trả tiền Ngân hàng X1 sẽ chuyển tên lại cho bà N là vợ ông B, có ông M4 cùng các con ông M4 ký tên vào và có xác nhận của Trưởng ban N5.

Phần đất 03 công tầm cấy trên ông B canh tác đến khi chết, thì bà N là người tiếp tục canh tác cho đến nay. Tuy nhiên, vào tháng 10 năm 2022, khi bà N chuẩn bị xạ lúa cho vụ Đông X thì ông Đàm Văn S (con ông M4) đứng ra ngăn cản không cho bà N xạ lúa, sau đó bà N có làm đơn yêu cầu đến Ban N5 để hòa giải nhưng không thành. Bà N tiếp tục làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân Phường C3 để giải quyết, nhưng trong quá trình đang giải quyết thì ông Đàm Văn S đã tự ý chiếm đất và đứng ra xạ lúa hết 03 công tầm cấy đất của bà N, bà N có trình báo với chính quyền địa phương, Công an và Cán bộ của Ủy ban nhân dân Phường C3 có đến và lập biên bản sự việc.

Vì vậy, bà Ngô Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho Hộ ông Đàm Văn M4 ngày 08/02/1996 đối với phần đất có diện tích 03 công tầm cấy diện tích theo đo thực tế là 4.187m², thuộc thửa số 57, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng.
  • Công nhận cho bà Ngô Thị N phần đất có diện tích 03 công tầm cấy, diện tích theo đo thực tế là 4.187m², thuộc thửa số 57, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng.
  • Buộc ông Đàm Văn S phải trả lại cho bà Ngô Thị N phần đất có diện tích 03 công tầm cấy, diện tích theo đo thực tế là 4.187m², thuộc thửa số 57, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
  • Buộc ông Đàm Văn S phải trả lại cho bà Ngô Thị N tiền hoa lợi mà ông S đã canh tác trên đất của bà N, mỗi năm là 4.000.000đồng/01 công tầm cấy, ông S đã canh tác 03 công tầm cấy, tổng cộng bà N yêu cầu ông S phải trả: 12.000.000 đồng/01 năm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Năm và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Năm, thay đổi 01 phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể là:

  • Buộc ông Đàm Văn S phải trả lại cho bà Ngô Thị N tiền hoa lợi mà ông S đã canh tác trên đất của bà N, một năm là 1.200.000đồng/01 công tầm cấy, ông S đã canh tác 03 công tầm cấy trong thời gian 1,5 năm, tổng cộng bà N yêu cầu ông S phải trả tiền sử dụng đất là: (1.200.000đ/công/1 năm x 3 công) x 1,5 năm = 5.400.000 đồng.

* Bị đơn Đàm Văn S đồng thời là người giám hộ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đàm Út N3, trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của cha ông tên Đàm Văn M4 (chết năm 2018) và mẹ tên Trần Thị B1 (chết năm 1985) cùng các con trong gia đình khai hoang từ năm 1967 mà có. Ông M4 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/02/1996, thửa đất số

57, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng.

Năm 2000 cha ông S cho em ruột tên Đàm Văn B, là chồng bà N mượn phần đất ruộng đang tranh chấp để làm lấy lúa ăn, vì gia đình ông B gặp khó khăn về kinh tế, ông M4 chết vào ngày 13/11/2018, đến tháng 10 năm 2022 thì ông S lấy lại đất ruộng đang tranh chấp để canh tác cho đến nay. Ông S cho rằng: Ông không canh tác sử dụng đất của bà N, ông đang canh tác sử dụng trên đất của cha mẹ ông chết để lại. Vì vậy, ông không đồng ý trả đất và trả tiền sử dụng đất theo yêu cầu khởi kiện của bà N.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Đàm Văn S, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Năm, vì các căn cứ sau:

  • Nguyên đơn Năm trình bày trong đơn khởi kiện là phần đất đang tranh chấp, năm 1979 có vào tập đoàn và giao cho gia đình ông M4 sử dụng. Đến năm 1982 thì gia đình ông M4 trả lại đất cho gia đình ông B sử dụng, nhưng nguyên đơn Năm không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh phần đất tranh chấp có vào tập đoàn năm 1979 và có việc gia đình ông M4 trả lại đất cho gia đình ông B vào năm 1982.
  • Phần đất đang tranh chấp cha của bị đơn S tên Đàm Văn M4 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp từ năm 1996, gia đình nguyên đơn Năm biết việc ông M4 được cấp giấy đất từ năm 1996, nhưng không khiếu nại việc cấp giấy của ông M4. Vì vậy, đề nghị Tòa án công nhận các quyền của người được cấp giấy theo quy định của pháp luật.
  • Người làm chứng Đàm Bách T5 và Huỳnh Thanh T6 trình bày: Khoảng năm 1996 đến 1997, hai ông công tác tại địa phương và có động viên ông Đàm Văn M4 là cha của bị đơn S, cho ông Đàm Văn B2 là em ruột ông M4 mượn phần đất đang tranh chấp. Vì vậy, có căn cứ để xác định: Đất đang tranh chấp là đất của gia đình ông M4 cho gia đình ông B mượn.
  • Nguyên đơn không xác định được ai là người viết “Giấy xác nhận và cam kết” ngày 03/5/2015 và cũng chưa có căn cứ để xác định dấu lăn tay trong giấy xác nhận nêu trên là của ông Đàm Văn M4. Ông Huỳnh Văn K2, là Trưởng ban N5 cũng xác nhận: Ông chỉ ký tên xác nhận vào giấy xác nhận và cam kết ngày 03/5/2015 do bà N đem tới và ông K2 không chứng kiến việc các đương sự ký tên và lăn tay trong giấy nêu trên. Vì vậy, không thể sử dụng “Giấy xác nhận và cam kết” ngày 03/5/2015 để làm căn cứ giải quyết vụ án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đảm Quốc T7 trình bày: thống nhất với lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của mẹ tôi là nguyên đơn Ngô Thị N.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đàm Văn T3 trình bày tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 22/8/2023, như sau: Ông có ký tên vào

“Giấy xác nhận và cam kết” ngày 03/5/2015 của cha tên Đàm Văn M4, nhưng là ký tên với nội dung xác nhận cha ông tên Đàm Văn M4 có cho chú ruột tên Đàm Văn B mượn 03 công đất ruộng, chứ không phải ký tên với nội dung xác nhận đất đang tranh chấp là của gia đình ông B và bà N.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị Hồng T4 và bà Đàm Thị Hồng S1 trình bày tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 22/8/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm, như sau: Các bà có ký tên vào “Giấy xác nhận và cam kết” ngày 03/5/2015 của cha tên Đàm Văn M4, nhưng là ký tên với nội dung xác nhận cha các bà tên Đàm Văn M4 có cho chú ruột tên Đàm Văn B mượn 03 công đất ruộng, chứ không phải ký tên với nội dung xác nhận đất đang tranh chấp là của gia đình ông B và bà N.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Bùi Văn T, ông Bùi Trung H, ông Đàm Văn K, bà Đàm Thị M, bà Đàm Thạch N2, bà Đàm Bích T1, bà Đàm Thị Hồng E, ông Đàm Văn D1, ông Đàm Văn M1, ông Đàm Văn C, bà Đàm Thị M2, bà Đàm Út K1, bà Đàm Thị M3: Không trình bày ý kiến đối với vụ án này.

* Ủy ban nhân dân huyện T và Ủy ban nhân dân thị xã N: Không trình bày ý kiến đối với vụ án này.

Kết quả đo đạc thực tế và định giá tài sản như sau:

  • Diện tích đất tranh chấp theo đo thực tế, được thể hiện tại “Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất” ngày 25/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã N, cung cấp cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng có diện tích là: 4.187m², số đo tứ cận cụ thể như sau:
    • - Hướng Đông giáp thửa đất số 507 và 538 có số đo 37,25m +75,63m.
    • - Hướng Tây giáp phần còn lại thửa đất số 57 có số đo 116,86.
    • - Hướng Nam giáp thửa đất số 587 có số đo 36,70m.
    • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 457 có số đo 35,81m.
  • Giá trị bằng tiền theo Chứng thư định giá của Công ty TNHH T8 ngày 11/9/2023 đối với diện tích đất tranh chấp là: 210.606.000đ.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Thị N.

1- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Đàm Văn M4 ngày 08/02/1996, đối với diện tích theo đo thực tế là 4.187m², là một phần của thửa đất số 57, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng, phần đất có số đo tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp thửa đất số 507 và 538 có số đo 37,25m+75,63m.
  • - Hướng Tây giáp phần còn lại thửa đất số 57 có số đo 116,86m.
  • - Hướng Nam giáp thửa đất số 587 có số đo 36,7m.
  • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 457 có số đo 35,81m.

2- Công nhận phần đất có diện tích theo đo thực tế là 4.187m² là một phần của thửa đất số 57, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Đàm Văn M4 ngày 08/02/1996, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Ngô Thị N và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đàm Văn B, phần đất có số đo tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp thửa đất số 507 và 538 có số đo 37,25m+75,63m.
  • - Hướng Tây giáp phần còn lại thửa đất số 57 có số đo 116,86m.
  • - Hướng Nam giáp thửa đất số 587 có số đo 36,7m.
  • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 457 có số đo 35,81m.

3- Buộc bị đơn Đàm Văn S có nghĩa vụ giao trả cho nguyên đơn Ngô Thị N và và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đàm Văn B, diện tích đất theo đo thực tế là 4.187m², là một phần của thửa đất số 57, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng, phần đất có số đo tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp thửa đất số 507 và 538 có số đo 37,25m +75,63m.
  • - Hướng Tây giáp phần còn lại thửa đất số 57 có số đo 116,86m.
  • - Hướng Nam giáp thửa đất số 587 có số đo 36,7m.
  • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 457 có số đo 35,81m.

(có sơ đồ kèm theo)

4- Buộc bị đơn Đàm Văn S phải trả cho nguyên đơn Ngô Thị N số tiền 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng) do sử dụng trên diện tích đất tranh chấp của nguyên đơn Năm từ tháng 10 năm 2022 đến khi xét xử sơ thẩm là ngày 10/5/2024.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả đủ số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm thi hành án.

5- Nguyên đơn Ngô Thị N và các đồng thừa kế của hàng thừa kế thứ nhất của ông Đàm Văn B, có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung bản án này.

Ngoài ra, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng còn quyết định về án phí và chi phí tố tụng, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 23/5/2024, bị đơn ông Đàm Văn S có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - ông Nguyễn Văn L trình bày:

  • Bản án sơ thẩm căn cứ vào giấy viết tay lập ngày 03/5/2015 nhưng chữ viết không phải của ông M4 (ông M4 không biết chữ) và dấu vân tay chưa được xác nhận là của ông M4. Cấp sơ thẩm chưa xác minh nhưng sử dụng chứng cứ này là chưa hợp pháp. Đồng thời theo xác nhận của ông K2 cho rằng: ông là Trưởng ban N5 chỉ xác nhận nội dung đơn là của bà Ngô Thị N chứ ông không có mặt chứng kiến việc các đương sự ký tên vào giấy cam kết.
  • GCNQSDĐ cấp cho hộ gia đình, không phải của một mình ông M4 nên việc định đoạt quyền sử dụng đất này phải được sự đồng thuận của cả hộ. Bà Nng chứng minh được nguồn gốc đất này.
  • Đất là ông M4ho gia đình ông Bh tác là có thật bởi vì gia đình ông Băn thua lỗ, hoàn cảnh khó khăn nên ông M4thương tình cho mượn đất.

* Bà Đàm Thị Hồng Enh bày: Bà không có ký hay lăn tay xác nhận vào đơn xác nhận năm 2015.

* Bà Đàm Thị Hồng T4nh bày: Tại thời điểm ký giấy xác nhận năm 2015, bà N ký để mượn đất chứ không phải cho đất nên bà mới ký vào giấy này. Nhưng dấu vân tay trong tờ xác nhận không phải của cha của bà (ông M4).

* Bà Ngô Thị Nnh bày: Bà không đồng ý với kháng cáo của ông S, đồng ý với bản án sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

  • Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định. Đơn kháng cáo của ông Sm trong hạn và đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  • Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập, đánh giá đầy đủ chứng cứ. Do đó, bản án cấp sơ thẩm tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của ông Đàm Văn Sm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Ông Sáng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Ngô Thị N.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng và người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thị xã N, tỉnh Sóc Trăng có đơn yêu cầu vắng mặt;

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Bùi Văn T, ông Bùi Trung H, ông Đàm Văn K, bà Đàm Thị M, bà Đàm Thạch N2, bà Đàm Bích T1, ông Đàm Văn T3, bà Đàm Thị Hồng E, ông Đàm Văn D1, ông Đàm Văn M1, ông Đàm Văn C, bà Đàm Thị M2, bà Đàm Thị M3bà Đàm Út K1, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 để tham dự phiên tòa phúc thẩm, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định xét xử vụ án vắng mặt những đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung vụ án:

Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp, các đương không thống nhất với nhau về vấn đề này. Ông Đàm Văn So rằng: Phần đất đang tranh chấp là của cha ông tên Đàm Văn M4 với các thành viên trong gia đình khai hoang từ năm 1967 mà có. Đến năm 2000 thì ông M4gia đình em ruột tên Đàm Văn Bvợ tên Ngô Thị Nn để làm ruộng nhưng ông Sông cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh có việc cho mượn phần đất đang tranh chấp vào năm 2000 trong khi bà Nng thừa nhận.

Trong khi đó, bà Ngô Thị N rằng, phần đất đang tranh chấp do gia đình vợ chồng Ngia đình ông Đàm Văn M4ha của bị đơn Sai hoang sau giải phóng khoảng năm 1976 đến 1977 mà có. Lời trình bày nêu trên của nguyên đơn Năm phù hợp với nội dung “Giấy xác nhận và cam kết” đề ngày 03/05/2015 của ông Đàm Văn M4. Khi còn sống, ông M4ác con tên Đàm Văn T3, Đàm Thị Hồng S1, Đàm Thị Hồng E Đàm Thị Hồng T4g ký tên và lăn tay xác nhận: Phần đất đang tranh chấp là của gia đình nguyên đơn Ngô Thị N, được thể hiện trong “Giấy xác nhận và cam kết” ngày 03/05/2015 của ông Đàm Văn M4, giấy xác nhận và cam kết nêu trên có nội dung cụ thể như sau:

“... Nay tôi cùng các con trong gia đình làm giấy xác nhận và cam kết này để làm bằng chứng về sau:

Nguyên là trước đây vào những năm sau tiếp thu tôi cùng em tôi là Đàm Văn B2, 68 tuổi đã chết. Trong lúc sinh thời hai anh em tôi đã cùng nhau khai phá và canh tác cùng nhau một miếng ruộng, mà hiện nay mang số thửa là 57, tờ bản đồ số 07 với tổng diện tích là 14.940m² và tôi đã đứng tên QSDĐ toàn bộ phần đất nêu trên và lúc em tôi là Đàm Văn B sống anh em đã thỏa thuận thống nhất như sau là em tôi Đàm Văn B lấy 3 công tầm cấy tương đương 3900m², và em tôi đã canh tác phần đất 3 công tầm cấy nêu trên cho đến hiện nay anh em không có tranh chấp, phần đất 3 công của em tôi là Đàm Văn Bvị trí giáp ranh với tứ cận như sau:

  • Phía Bắc giáp nền nhà ông Đàm Văn D1 đo là:
  • Phía Nam giáp bà Trần Thị L1ố đo là: - Phía Đông giáp Đàm Văn C2 đo là:
  • Phía Tây giáp Đàm Văn S2ố đo là:

Nay tôi và các con làm giấy này để xác nhận nội dung mà tôi cùng em tôi thỏa thuận, phần đất khai thác chung nêu trên để làm bằng chứng về sau và cam kết khi nào tôi có tiền trả Ngân hàng Nông nghiệp tôi rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về sẽ giao cho em dâu tôi là Ngô Thị Nh năm 1947, thường trú tại Khóm V, Phường C, thị xã N, Sóc Trăng do là em tôi đã chết, nhưng từ trước tới nay gia đình tôi đã gặp khó khăn về kinh tế nên bằng khoán còn dính mãi trong Ngân hàng không rút được nên em tôi cũng không thể tách quyền sử dụng phần đất 3 công tầm cây nêu trên được.

Vậy tôi cùng các con làm giấy xác nhận và cam kết này để làm bằng chứng về sau và để cho em dâu cùng các cháu của tôi được yên lòng, đồng thời nếu sau này tôi cùng các con của tôi không thực hiện đúng theo nội dung xác nhận và cam kết nêu trên thì tôi cùng các con tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật hiện hành...”

Như vậy, mặc dù diện tích đất đang tranh chấp, do ông Đàm Văn M4 tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng khi còn sống, ông M4ác con tên Đàm Văn T3, Đàm Thị Hồng S1, Đàm Thị Hồng E Đàm Thị Hồng T4g ký tên và lăn tay trong “Giấy xác nhận và cam kết” ngày 03/05/2015 có nội dung thể hiện phần đất đang tranh chấp là một phần của diện tích đất mà ông M4ng Bi phá, diện tích đất đang tranh chấp là của gia đình ông Đàm Văn Bbà Ngô Thị N. Mặc dù gia đình ông M4 nay không công nhận nội dung của giấy xác nhận này nhưng quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn không có yêu cầu giám định dấu vân tay của ông M4hữ ký của các con ông M4giấy xác nhận này. Gia đình ông Btrực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp ổn định, liên tục trong thời gian dài đến trước khi bị ông Săn cản, tranh chấp việc sử dụng đất. Thời điểm Ủy ban nhân dân huyện T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M4, gia đình ông Bg quản lý, sử dụng phần diện tích đất này. Do vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M4 diện tích đất tranh chấp là không đúng đối tượng sử dụng đất.

Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Đàm Văn Bbà Ngô Thị Nphù hợp với các tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc tạo lập, quá trình quản lý, sử dụng diện tích đất này. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà N một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cho Hộ ông Đàm Văn M4 08/02/1996 đối với phần đất có diện tích diện tích theo đo thực tế là 4.187m² thuộc một phần của thửa số 57, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăngó căn cứ, đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận diện tích đất đang tranh chấp nêu trên là của gia đình bà N, bà Nquyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý đất đai tại địa phương, làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với diện tích đất đang tranh chấp, theo quy định của pháp luật về đất đai là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bà N.

Do ông S dụng diện tích đất tranh chấp từ tháng 10 năm 2022 đến khi xét xử sơ thẩm ngày 10/5/2024 không có căn cứ pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Sải có nghĩa vụ trả giá trị bằng tiền cho bà Nng ứng với thời gian sử dụng đất là 01 năm 06 tháng, với số tiền là (03 công x 1.200.000đ/1 công/1 năm) x 1,5 năm = 5.400.000đ.

Bị đơn - ông Đàm Văn Sáng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Đàm Văn Sải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đàm Văn S. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng như sau:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Thị N.

1.1. Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Đàm Văn M4 08/02/1996, đối với diện tích theo đo thực tế là 4.187m², là một phần của thửa đất số 57, tờ bản đồ số 06,

đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng, phần đất có số đo tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp thửa đất số 507 và 538 có số đo 37,25m+75,63m.
  • - Hướng Tây giáp phần còn lại thửa đất số 57 có số đo 116,86m.
  • - Hướng Nam giáp thửa đất số 587 có số đo 36,7m.
  • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 457 có số đo 35,81m.

1.2. Công nhận phần đất có diện tích theo đo thực tế là 4.187m² là một phần của thửa đất số 57, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Đàm Văn M4 08/02/1996, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Ngô Thị Nnhững người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đàm Văn B, phần đất có số đo tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp thửa đất số 507 và 538 có số đo 37,25m+75,63m.
  • - Hướng Tây giáp phần còn lại thửa đất số 57 có số đo 116,86m.
  • - Hướng Nam giáp thửa đất số 587 có số đo 36,7m.
  • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 457 có số đo 35,81m.

1.3. Buộc bị đơn Đàm Văn S nghĩa vụ giao trả cho nguyên đơn Ngô Thị Nvà những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đàm Văn B, diện tích đất theo đo thực tế là 4.187m², là một phần của thửa đất số 57, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T (nay là Khóm V, Phường C, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng, phần đất có số đo tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp thửa đất số 507 và 538 có số đo 37,25m +75,63m.
  • - Hướng Tây giáp phần còn lại thửa đất số 57 có số đo 116,86m.
  • - Hướng Nam giáp thửa đất số 587 có số đo 36,7m.
  • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 457 có số đo 35,81m.

(có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm)

1.4. Buộc bị đơn Đàm Văn Sải trả cho nguyên đơn Ngô Thị Ntiền 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng) do sử dụng trên diện tích đất tranh chấp của nguyên đơn Năm từ tháng 10 năm 2022 đến khi xét xử sơ thẩm là ngày 10/5/2024.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả đủ số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm thi hành án.

1.5. Nguyên đơn Ngô Thị Ncác đồng thừa kế của hàng thừa kế thứ nhất của ông Đàm Văn B, có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung bản án này.

2. Về án phí: Ông Đàm Văn Sải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002928 ngày 23/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng. Ông Đàm Văn S nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Duyên Cao Văn Tám Bùi Thị Thu

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng; (1)
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng; (1)
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng; (1)
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; ĐTM. (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1022/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản

  • Số bản án: 1022/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đàm Văn S. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger