Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 1021/2024/HC-PT

Ngày: 16 - 9 - 2024

V/v Khiếu kiện hành vi hành chính

về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

khi thu hồi đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán: Ông Phan Nhựt Bình

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 175/2024/TLPT-HC ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2023/HC-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1027/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện:

1/. Ông Lâm R; địa chỉ: số E đường T, khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

2/. Bà Nguyễn Thị G; địa chỉ: số E đường T, khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm R: Bà Nguyễn Thị G; địa chỉ: số E đường T, khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 14/12/2023). (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1978; địa chỉ: Số F đường L, Khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (theo văn bản ủy quyền ngày 14/3/2024). (có mặt)

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ: số I,

2

đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Trần Văn N - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S; địa chỉ: số I đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy ủy quyền số 483/GUQ-UBND ngày 28/3/2023). (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Đỗ Xuân N1 - Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố S; địa chỉ: số I đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, (theo văn bản số 479/UBND-HC ngày 28/3/2023). (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ: số I đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn N - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S; địa chỉ: số I đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy ủy quyền số 483/GUQ-UBND ngày 28/3/2023). (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Xuân N1 - Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố S; địa chỉ: số I đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, (theo văn bản số 479/UBND-HC ngày 28/3/2023). (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người kháng cáo: Ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G trình bày:

Nhà nước thực hiện dự án Bệnh viện C, tỉnh Sóc Trăng ảnh hưởng trên thực tế đối với 03 thửa đất số 210, 287, 162 của ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G nhưng ông R, bà G không nhận được quyết định thu hồi các thửa đất này theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số 69/NĐ- CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Ông R, bà G đã có khiếu nại nhiều lần, được mời đối thoại nhiều lần, được người có thẩm quyền thừa nhận sự kiện này, nhưng giải quyết không thỏa đáng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S từng ban hành Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 về giải quyết khiếu nại, nhưng ông R, bà G không đồng ý, tiếp tục khiếu nại và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành Quyết định 1411/QĐ-UBND ngày 26/5/2020 với nội dung giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S thu hồi, hủy Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 28/12/2018.

Ông R, bà G cho rằng dự án Bệnh viện chuyên khoa Sản Nhi tỉnh C đã được thực hiện, triển khai xây dựng trên thực tế nhưng ông, bà vẫn chưa nhận được quyết định thu hồi đất và tiền bồi thường. Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S cũng không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại khác.

Ông Lâm R và bà Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc

3

Ủy ban nhân dân thành phố S có trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định pháp luật đối với 03 thửa đất sau:

  • Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.127,6m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm khác, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H0359, cấp ngày 01/6/2007 cho bà Nguyễn Thị G, ông Lâm R.
  • Thửa đất số 162, tờ bản đồ số 02, diện tích 7.420m² (trong đó có 100m² đất thổ cư), tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 0024, cấp ngày 25/12/1997 cho hộ ông Lâm R.
  • Thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, diện tích 902,4m², mục đích sử dụng ĐRM, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1513, cấp ngày 10/02/2004 cho hộ bà Nguyễn Thị G.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố S trình bày:

Ngày 28/12/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S ban hành Quyết định số 05/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của (ông) bà Nguyễn Thị G và ông Lâm R (lần đầu), với nội dung chấp nhận bồi thường bổ sung phần diện tích đất còn thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 959,5m² (100m² đất T và 859,5m² đất ĐM) thuộc thửa 162 (thửa mới 191+198), tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S. Ông Lâm R không đồng ý, tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S.

Ngày 26/5/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành Quyết định số 1411/QĐ-UBND về giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị G và ông Lâm R(lần hai), với nội dung giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S thu hồi, hủy Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 và giải quyết lại khiếu nại của bà G và ông R theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 30/6/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S ban hành Quyết định số 875/QĐ-UBND về việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại của bà Nguyễn Thị G và ông Lâm Rkhiếu nại việc thu hồi đất của Ủy ban nhân dân thành phố S để thực hiện Dự án Bệnh viện Chuyên khoa Sản - N, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 19/5/2021, Ủy ban nhân dân thành phố S phối hợp Thanh tra tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cùng các phòng, ban ngành thành phố tổ chức buổi đối thoại với ông Lâm R theo quy định tại Điều 30 Luật Khiếu nại năm 2011. Qua đối thoại, ông R đề nghị giải quyết theo hướng được hoán đổi đất (tính giá trị tương đương) cho gia đình ông, Ủy ban nhân dân thành phố ghi nhận ý kiến của ông R.

Ngày 02/6/2021, Ủy ban nhân dân thành phố S có Báo cáo số 144/BC-UBND báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc giải quyết đơn của bà G, ông R. Ngày 23/01/2022, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh S có Thông báo số 08/TB-VPUBND thông báo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao Ủy ban nhân dân thành phố S phối hợp các Sở, ngành có liên quan tính lãi theo lãi suất ngân hàng trên tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với 03 thửa đất mà ông R,

4

bà G chưa nhận tiền từ năm 2010 đến nay. Sau đó, mời ông R, bà G đến trao đổi, thống nhất phương án giải quyết.

Ngày 12/7/2022, Ủy ban nhân dân thành phố S tổ chức cuộc họp với các Sở, ngành tỉnh (Thanh tra, Sở Xây dựng, Sở T, Ban Q) và các phòng, ban ngành thành phố (Thanh tra, Phòng Q1, Phòng T, Trung tâm Phát triển quỹ đất, Ban Tiếp công dân) để thống nhất việc chi trả tiền bồi hoàn có tính lãi theo lãi suất ngân hàng trên tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với 03 thửa đất mà ông R, bà G chưa nhận tiền từ năm 2010 đến nay thuộc Dự án Bệnh viện Chuyên khoa Sản - N, tỉnh Sóc Trăng. Theo đó, thống nhất việc tính lãi với tổng số tiền ước tính là 1.336.709.729 đồng (trong đó, số tiền gốc 668.829.000 đồng; số tiền lãi 667.880.729 đồng).

Cùng ngày 12/7/2022, Ủy ban nhân dân thành phố S và các Sở, ngành, phòng, ban liên quan đã có buổi gặp gỡ động viên, trao đổi, thống nhất phương án giải quyết đối với ông R, bà G. Qua trao đổi, ông R không đồng ý với phương án tính lãi theo lãi suất ngân hàng và yêu cầu ban hành quyết định thu hồi đất vào thời điểm nào thì tính giá trị vào thời điểm đó theo quy định pháp luật.

Ủy ban nhân dân thành phố S đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm R và bà Nguyễn Thị G.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2023/HC-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm R và bà Nguyễn Thị G về việc yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng có trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định pháp luật đối với 03 thửa đất sau:

  • Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.127,6m², mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm khác, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H0359, cấp ngày 01/6/2007 cho bà Nguyễn Thị G, ông Lâm R.
  • Thửa đất số 162, tờ bản đồ số 02, diện tích 7.420m² (trong đó có 100m² đất thổ cư), tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 0024, cấp ngày 25/12/1997 cho hộ ông Lâm R.
  • Thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, diện tích 902,4m², mục đích sử dụng: ĐRM, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1513, cấp ngày 10/02/2004 cho hộ bà Nguyễn Thị G.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 11/01/2024, người khởi kiện ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông R, bà G.

5

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
  • Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông R, bà G; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, tiến hành xét xử vắng mặt đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung:

[2.1] Thực hiện dự án xây dựng Bệnh viện Chuyên khoa Sản – N, ngày 08/4/2010, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành Quyết định số 299/QĐHC-CTUBND phê duyệt phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Dự án xây dựng Bệnh viện Chuyên khoa Sản - N, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 14/4/2010, Ủy ban nhân dân thành phố S ban hành Quyết định số 334/QĐHC-UBND về việc phê duyệt dự toán chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án Bệnh viện Chuyên khoa Sản - N, tỉnh Sóc Trăng. Vào các ngày 04/5/2010, 05/5/2010, Ủy ban nhân dân thành phố S ban hành 38 Quyết định thu hồi đất, trong đó 09 Quyết định thu hồi đất và bồi thường thiệt hại đối với bà Nguyễn Thị G và ông Lâm R với tổng diện tích 23.572,6m². Ngày 06/5/2010, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố S (đơn vị được giao triển khai quyết định) phối hợp Ủy ban nhân dân Phường E tiến hành triển khai quyết định thu hồi đất của các hộ dân bị ảnh hưởng dự án Bệnh viện Chuyên khoa Sản - N, tỉnh Sóc Trăng, địa điểm triển khai tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố S. Tại buổi triển khai này, ông R, bà G không có mặt; tuy nhiên sau đó UBND thành phố S cũng đã triển khai các quyết định thu hồi đất và bồi thường thiệt hại cho ông R, bà G. Ông R, bà G đã nhận tiền bồi thường đối với một phần diện tích đất bị thu hồi; đối với 03 thửa đất số 210 (thu hồi theo Quyết định số 336/QĐND-UBTP), 287 (thu hồi theo Quyết định số 368/QĐND-UBTP), 162 (thu hồi theo Quyết định số 334/QĐND-UBTP), ông R, bà G không đồng ý với quyết định thu hồi đất và bồi thường nên có đơn khiếu nại.

[2.2] Theo Công văn số 2190/UBND-HC ngày 05/12/2022 của UBND tỉnh S thì quá trình giải quyết khiếu nại của ông R, bà G như sau: Trung tâm phát triển

6

quỹ đất thuộc UBND thành phố S, Văn phòng Hội đồng nhân dân, UBND thành phố S, Thanh tra UBND thành phố S, UBND thành phố S đã tiến hành làm việc, vận động ông R, bà G nhiều lần trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2018 nhưng không thống nhất được ý kiến giải quyết. Căn cứ Báo cáo xác minh số 105/BC-TTr ngày 19/11/2018 của Thanh tra thành phố S, ngày 28/12/2018, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 05/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của ông Lâm R, bà G; có nội dung chấp nhận một phần khiếu nại của ông R, bà G; bổ sung phần đất có diện tích 959,5m² thuộc thửa số 162, trong đó có 100m² đất ở cho hộ ông R, bà G. Ngày 26/5/2020, Chủ tịch UBND tỉnh S ban hành Quyết định số 1411/QĐ-UBND, hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 05/QĐ-UBND của UBND thành phố S; giao UBND thành phố S thụ lý giải quyết lại khiếu nại. Ngày 30/6/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S ban hành Quyết định số 875/QĐ-UBND về việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại của bà Nguyễn Thị G và ông Lâm R khiếu nại việc thu hồi đất của Ủy ban nhân dân thành phố S để thực hiện Dự án Bệnh viện chuyên khoa Sản-N, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 02/6/2021, Ủy ban nhân dân thành phố S có Báo cáo số 144/BC-UBND báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc giải quyết đơn của bà Nguyễn Thị G và ông Lâm R. Ngày 23/01/2022, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh S có Thông báo số 08/TB-VPUBND thông báo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao Ủy ban nhân dân thành phố S phối hợp các Sở, ngành có liên quan tính lãi theo lãi suất ngân hàng trên tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với 03 thửa đất mà ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G chưa nhận tiền từ năm 2010 đến nay. Ngày 12/7/2022, Ủy ban nhân dân thành phố S tổ chức cuộc họp với các Sở, ngành tỉnh, thành phố để thống nhất việc chi trả tiền bồi hoàn có tính lãi theo lãi suất ngân hàng trên tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với 03 thửa đất mà ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G chưa nhận tiền từ năm 2010 đến nay. Cùng ngày 12/7/2022, Ủy ban nhân dân thành phố S và các Sở, ngành, phòng, ban liên quan đã có buổi gặp gỡ động viên, trao đổi, thống nhất phương án giải quyết đối với ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G. Tuy nhiên, ông R, bà G vẫn không thống nhất với hướng xử lý nêu trên. Ngày 20/7/2022, Ủy ban nhân dân nhân thành phố S có Báo cáo số 265/BC-UBND báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Ngày 27/7/2022, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh S có Công văn số 3711/VP-TD thông báo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh giao Thanh tra tỉnh trình, xin chủ trương của Thường trực Tỉnh ủy đối với vụ việc của ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G.

Như vậy, đến nay khiếu nại của ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G về việc yêu cầu xem xét lại việc bồi thường, thu hồi đất các thửa 210, 287, 162 vẫn chưa được Chủ tịch UBND thành phố S, Chủ tịch UBND tỉnh S giải quyết bằng quyết định hành chính cụ thể.

[2.3] Đối với thửa đất số 210, 287, ông R, bà G cho rằng đất có vị trí mặt tiền đường nên đề nghị được hoán đổi đất, không đồng ý nhận tiền bồi thường.

Xét thấy: Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 11 có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Kiên Thị R1 năm 2006; ngày 01/6/2007, hộ ông Lâm R được UBND thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số QG976827, diện tích

7

1.127,6m², loại đất trồng cây hàng năm khác. Thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11 có nguồn gốc chuyển nhượng của bà Kiên Thị R1 vào tháng 2/2004; ngày 10/4/2004, hộ ông Lâm R được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 149144, diện tích 902,4m² loại đất rau màu. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì “1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này”. Do UBND thành phố S không có quỹ đất trống để tiến hành bồi thường bằng đất cho hộ ông R, bà G nên thực hiện bồi thường bằng tiền; đơn giá bồi thường thực hiện theo Quyết định số 47/2009/QĐ-UBND ngày 21/12/2009 của UBND tỉnh S quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng (có hiệu lực tại thời điểm bồi thường) là có căn cứ. Ông R, bà G khiếu nại yêu cầu được bồi hoàn bằng đất là không có cơ sở. Đối với 02 thửa đất trên, UBND đã nhiều lần làm việc, vận động ông R, bà G nhận tiền bồi thường, hỗ trợ nhưng ông R, bà G không thực hiện. Nay ông R, bà G cho rằng không nhận được quyết định thu hồi đất và buộc UBND thành phố S bồi thường theo giá trị đất tại thời điểm giải quyết lại là không có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Đối với thửa đất số 162, có nguồn gốc do bà Trần Thị T1, ông Huỳnh Văn S, bà Võ Thị Xuân L sử dụng, chuyển nhượng lại cho ông Lâm R. Năm 1997, hộ ông R được UBND tỉnh S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K979072, diện tích 7.420m², trong đó đất ODT là 100m²; đất ĐM là 7.320m²). Sau khi UBND thành phố S ban hành Quyết định số 334/QĐND-UBTP ngày 04/5/2010 thu hồi thửa đất số 162; ông R, bà G khiếu nại cho rằng diện tích thu hồi bị thiếu so với diện tích đất được cấp; UBND thành phố S không thực hiện bồi thường cho ông R, bà G 100m² đất ở là không đúng quy định pháp luật.

Đối với diện tích đất thu hồi của thửa 162, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông R thể hiện diện tích 7.420m², trong đó có 100m² hộ ông R đã được công nhận mục đích sử dụng là đất ở. Quyết định số 334/QĐND-UBTP của UBND thành phố S thu hồi và bồi thường toàn bộ diện tích 6.460,5m² và áp dụng theo đơn giá đất nông nghiệp, không bồi thường 100m² đơn giá đất ở là không phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông R, bà G; trái với quy định tại Điều 42 Luật Đất đai và Điều 6 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Quá trình giải quyết khiếu nại của ông R, bà G, UBND thành phố S nhiều lần khẳng định việc không bồi thường cho hộ ông R, bà G phần diện tích đất 100m² thuộc thửa 162 theo đơn giá đất ở là có thiếu sót (Báo cáo số 105/BC-TTr ngày 19/11/2018 của Thanh tra thành phố S; Báo cáo số 144/BC-UBND ngày 02/6/2021 của UBND thành phố S...). Tuy nhiên, theo như diễn biến được nêu tại mục [2.2] thì sau đó UBND thành phố S không thực hiện bồi thường lại cho hộ ông R, bà G theo đúng quy định của Luật Đất đai mà thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh S, phối hợp các Sở, ngành có liên quan tính lãi theo lãi suất ngân hàng

8

trên tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với 03 thửa đất mà ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G chưa nhận tiền từ năm 2010 đến nay, vận động ông R, bà G nhận tiền bồi thường, hỗ trợ là thực hiện không đúng trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng UBND thành phố S đã thực hiện trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ cho ông R, bà G, do ông R, bà G không có mặt nên không thể triển khai các quyết định thu hồi đất, chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; từ đó bác yêu cầu khởi kiện của ông R, bà G là không phù hợp với các quy định pháp luật đã được viện dẫn trên.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G; hủy một phần Quyết định số 334/QĐHC-UBND về việc phê duyệt dự toán chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án Bệnh viện Chuyên khoa Sản - N2, tỉnh Sóc Trăng liên quan đến việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đối với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S và Quyết định số 334/QĐND-UBTP ngày 04/5/2010 thu hồi và bồi thường đối với thửa đất số 162; buộc UBND thành phố S thực hiện lại việc bồi thường theo đúng quy định pháp luật.

[3] Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G không phải chịu do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận một phần. UBND thành phố S phải chịu.

[4] Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính;

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G.

Sửa một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2023/HC-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

1/. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm R và bà Nguyễn Thị G về việc yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng có trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định pháp luật đối với 02 thửa đất sau:

  • Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.127,6m², mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm khác, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H0359, cấp ngày 01/6/2007 cho bà Nguyễn Thị G, ông Lâm R.
  • Thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, diện tích 902,4m², mục đích sử dụng: ĐRM, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1513, cấp ngày 10/02/2004 cho hộ bà Nguyễn Thị G.

2/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G.

9

Hủy một phần Quyết định số 334/QĐHC-UBND về việc phê duyệt dự toán chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án Bệnh viện Chuyên khoa Sản - N, tỉnh Sóc Trăng và Quyết định số 334/QĐND-UBTP ngày 04/5/2010 về thu hồi và bồi thường đối với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 02, diện tích 7.420m² (trong đó có 100m² đất thổ cư), tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 0024, cấp ngày 25/12/1997 cho hộ ông Lâm R.

Buộc Ủy ban nhân dân thành phố S thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.

3/. Án phí hành chính sơ thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố S phải chịu 300.000 đồng.

4/. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lâm R, bà Nguyễn Thị G không phải chịu.

5/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP. HCM;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - ĐS (4);
  • - Lưu VP (5), HS (2).16b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1021/2024/HC-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện hành vi hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất.

  • Số bản án: 1021/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hành vi hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Lâm R và bà Nguyễn Thị G yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng có trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định pháp luật đối với 02 thửa đất sau: - Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.127,6m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm khác, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H0359, cấp ngày 01/6/2007 cho bà Nguyễn Thị G, ông Lâm R. - Thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, diện tích 902,4m2, mục đích sử dụng: ĐRM, tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1513, cấp ngày 10/02/2004 cho hộ bà Nguyễn Thị G. Hủy một phần Quyết định số 334/QĐHC-UBND về việc phê duyệt dự toán chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án Bệnh viện Chuyên khoa Sản - N, tỉnh Sóc Trăng và Quyết định số 334/QĐND-UBTP ngày 04/5/2010 về thu hồi và bồi thường đối với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 02, diện tích 7.420m2 (trong đó có 100m2 đất thổ cư), tọa lạc tại khóm C, Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 0024, cấp ngày 25/12/1997 cho hộ ông Lâm R.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger