Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1020/2024/HS-PT

Ngày: 20/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến.

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Nhật Tân

Ông Hoàng Văn Thành

- Thư ký phiên toà:

Bà Nguyễn Ngọc Trà My – Thư ký Toà án nhân nhân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 313/2024/TLPT-HS, ngày 21 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng N do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 780/QĐXXPT- HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo có kháng cáo:

1.Nguyễn Thị Hồng N

sinh ngày 20/12/1978 tại tỉnh Hà Nam; Nơi ĐKHKTT: SỐ F, H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Nhà B, ngõ F, P, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hữu P và bà Quyền Thị T; Chồng tên là Nguyễn Trường G (đã ly hôn) và Khuất Văn T1 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;

Bắt để tạm giam từ ngày 26/10/2023 đến ngày 04/12/2023 được hủy bỏ biện pháp tạm giam và thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

2. Nguyễn Thị T2

sinh ngày 15/01/1992 tại tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKTT: Phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Bá T3 và bà Nguyễn Thị T4; Chồng tên là Phạm Xuân T5; Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;

Bắt để tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an Thành phố H;.

- Người bào chữa cho Nguyễn Thị Hồng N: Luật sư Đỗ Trần Mai A, luật sư Nguyễn Thị N1 – Công ty L và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Có mặt.

- Bị cáo không có kháng cáo: Nguyễn Thị T2.

- Bị hại không kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Đức M

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/10/2021, Nguyễn Chính T6 (sinh năm 1985, trú tại thôn D, xã B, huyện T, Hà Nội) bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt và khởi tố về tội Tổ chức đánh bạc. Nguyễn Thị Đức M (sinh năm 1989; là vợ T6) quen biết với Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1992; HKTT tại đường N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương), thời điểm này đang mở quán S tại K, tòa nhà H, khu đô thị T, xã C, huyện T, Hà Nội. M tâm sự với T2 về việc chồng mình bị bắt giam và khởi tố. T2 nói với M có quen biết với Nguyễn Thị Hồng N (sinh năm 1978, trú tại phòng 510, nhà B8b, ngõ F P, phường K, quận Đ, Hà Nội) có thể “chạy án” cho chồng M được tại ngoại và được hưởng án treo nên M nhờ T2 nói với N để nhờ N giúp chạy án cho T6.

Ngày 16/01/2022, T2 và N thống nhất sẽ cùng nói với M rằng số tiền để lo chạy án cho T6 là 450.000.000đ để sau khi N lo được việc cho T6 thì T2 sẽ được 25.000.000đ tiền công. Sau đó, M đến gặp trực tiếp N tại quán Spa của T2 để nói chuyện về việc chạy án cho T6. Tại đây, N nói sẽ lo chạy án cho T6 với chi phí là 450.000.000đ và yêu cầu M đưa trước 250.000.000đ. Khi đó M mới có được 230.000.000đ nên T2 nói với M đưa cho N số tiền 230.000.000đ bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng để sau có căn cứ thể hiện việc chuyển tiền. Cũng trong thời điểm này Nguyễn Bá H (sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương; là anh trai của T2) cũng đang ở cùng với T2 tại quán Spa và có sử dụng thẻ L1 của ngân hàng T10 có thể chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản qua cây ATM nên T2 nói với M chuyển tiền vào thẻ của H rồi H chuyển tiền vào tài khoản của T2 để T2 chuyển tiền cho N. Sau đó, thông qua tài khoản ngân hàng của Nguyễn Bá H đã chuyển 230.000.000đ tiền mặt của chị M vào tài khoản ngân hàng C tại ngân hàng V của T2 rồi T2 dùng tài khoản ngân hàng của mình chuyển số tiền 200.000.000đ cho N.

Ngày 17/01/2022, M tiếp tục cầm 20.000.000đ tiền mặt đến quán S của T2 để nhờ T2 đưa cho N cho đủ tổng số tiền 250.000.000đ theo thỏa thuận. Cùng ngày, T2 chuyển khoản 15.000.000đ từ tài khoản ngân hàng của T2 vào tài khoản ngân hàng của N.

Ngày 19/01/2022, T2 tiếp tục chuyển khoản 10.000.000đ vào tài khoản ngân hàng của N.

Sau đó, N yêu cầu M đưa thêm cho N số tiền 50.000.000đ để chạy án cho T6. Tuy nhiên lúc này M chỉ có 30.000.000đ nên M nói chuyện với T2, T2 nói với M cứ đưa 30.000.000đ này cho T2 để T2 đưa cho N và T2 sẽ nói đỡ cho M. Ngày 30/01/2022, M chuyển khoản 30.000.000đ vào tài khoản ngân hàng của T2 để nhờ T2 đưa cho N nhưng sau đó T2 không chuyển số tiền này cho N. Đến khoảng tháng 02/2022, M đòi T2 số tiền mà T2 đang cầm của M nhưng chưa chuyển cho N là 55.000.000đ nên T2 đã chuyển khoản trả lại cho M 40.000.000đ và xin nợ lại số tiền 15.000.000đ.

Ngày 17/02/2022, M cùng mẹ là bà Nguyễn Thị T7 tiếp tục ra nơi ở của N để đưa cho N số tiền 30.000.000đ để N lo việc chạy án cho T6. Tại đây, N đã viết giấy biên nhận nhận của M số tiền là 255.000.000đ để lo chạy án cho T6.

Sau đó, N tiếp tục bảo M chuyển thêm 20.000.000đ để lo chạy án cho T6 nên ngày 25/02/2022, M chuyển khoản 20.000.000đ từ tài khoản ngân hàng S1 tại ngân hàng V1 của M vào tài khoản ngân hàng 0868895889 của N.

Ngày 17/6/2022, Nguyễn Chính T6 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai xử phạt 15 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Chị M thấy N và T2 không lo chạy án được cho T6 như đã thỏa thuận nên ngày 29/12/2022 đã làm đơn trình báo đến Công an huyện T.

Như vậy, tổng số tiền mà Nguyễn Thị Hồng N và Nguyễn Thị T2 đã nhận từ Nguyễn Thị Đức M, mục đích để N “chạy án” cho Nguyễn Chính T6 là 300.000.000đ.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu tím nhạt, số imeil: 356553102667765 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Plus màu đỏ, số imeil: 359076397677227 thu giữ của Nguyễn Thị Hồng N.
  • 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị T7 sinh năm 1963 trú tại thôn D, xã B, huyện T.

Tại Bản kết luận giám định số 3327/KL-KTHS ngày 29/5/2023 của Phòng K – Công an thành phố H kết luận:

“Chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A (trừ chữ viết dưới mục “Người đưa tiền”) với chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Hồng N tên mẫu so sánh ký hiệu M1, chữ viết dưới mục “Người khai” tại tờ 1, chữ viết có nội dung “Tôi đã đọc lại toàn bộ biên bản ghi lời khai... Nguyễn Thị Hồng N” tại trang 2 tờ 2 và chữ viết có nội dung “Tôi đã đọc lại ghi đúng lời tôi trình bày Nguyễn Thị Hồng N” tại trang 3 tờ 2 trên mẫu so sánh ký hiệu M2 là chữ do cùng một người viết ra”.

Đối với nội dung Nguyễn Thị Hồng N khai nhận đã chuyển số tiền 275.000.000đ cho người tên Lê Đình T8 bằng hình thức chuyển khoản và đưa tiền mặt để nhờ T8 lo chạy án cho T6. Ngoài lời khai của Nguyễn Thị Hồng N thì không có chứng cứ nào khác chứng minh N đã chuyển cho T8 tổng số tiền 275.000.000đ với mục đích nhờ T8 lo chạy án cho T6 mà trong sao kê tài khoản ngân hàng F, chủ tài khoản “LE DINH THOI” chỉ xác định N đã chuyển cho số tài khoản này tổng số tiền 94.000.000đ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhân thân lai lịch và ra Quyết định truy tìm người với đối tượng trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra về hành vi của Lê Đình T8.

Về xử lý tài liệu, vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu tím nhạt và điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Plus màu đỏ của Nguyễn Thị Hồng N, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại, không phát hiện trong điện thoại có nội dung liên quan đến việc phạm tội của N. Xác định N không sử dụng 02 chiếc điện thoại này vào mục đích phạm tội nên đã xử lý bằng hình thức trao trả cho N.

Đối với căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị T7, Cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị T7.

Về dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Đức M đã nhận đủ số tiền 300.000.000đ đưa cho Nguyễn Thị Hồng N và Nguyễn Thị T2 để chạy án cho T6, M không có thắc mắc, đề nghị gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Nguyễn Thị Hồng N và Nguyễn Thị T2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HSST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, TP Hà Nội đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174;

Ngoài ra bản án còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo khác, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị Hồng N kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ hành vi của ông Lê Đình T8.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử : Áp dụng điều 54, điểm a khoản 3 Điều 174, điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo N còn 5 năm tù để phù hợp với tính chất vụ án . Đề nghị giảm cho bị cáo T2 3 đến 6 tháng tù còn 4 năm 9 tháng đến 4 năm 6 tháng tù.
  • - Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N đề nghị HĐXX xem xét xin giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo là mẹ đơn than, gia đình bị cáo có bác là liệt sỹ.
  • - Người bào chữa cho bị cáo N đề nghị HĐXX xem xét: Bị cáo N vai trò giúp sức nhưng chưa hưởng lợi. Bị cáo vai trò đồng phạm có mức độ. Bị cáo đã bồi thường 275 triệu. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo là mẹ đơn thân. Gia đình thờ cúng liệt sỹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1]. Về hình thức:

Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định và kháng cáo của bị cáo là hợp lệ về hình thức nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

Về hành vi của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào lời khai của bị hại, căn cứ vào lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án HĐXX đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo như sau:

Năm 2022, chị Nguyễn Thị Đức M có nhu cầu xin tại ngoại và án treo cho chồng là anh Nguyễn Chính T6 bị tạm giam, truy tố, xét xử về tội Tổ chức đánh bạc nên đã thông qua Nguyễn Thị T2 gặp và nhờ Nguyễn Thị Hồng N chạy án cho anh T6. N và T2 thống nhất nói với chị M số tiền chạy án đưa cho N là 450.000.000 đồng để sau đó T2 được hưởng 25.000.000 đồng tiền công. Mặc dù không có chức năng, nhiệm vụ trong việc giải quyết vụ án của anh T6 nhưng N vẫn cam kết với chị M là có khả năng giúp được anh T6 tại ngoại và hưởng án treo. Tin tưởng N nói thật nên chị M đã đưa cho N 285.000.000 đồng và đưa cho T2 15.000.000 đồng để chạy án cho T6. Sau khi nhận được tiền, N không thực hiện được cam kết và không trả lại tiền cho chị M. Nguyễn Thị Hồng N và Nguyễn Thị T2 là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Đức M với tổng số tiền là 300.000.000đ. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Xét kháng cáo của bị cáo N đề xác minh làm rõ nhân thân, địa chỉ của Lê Đình T8 vì N đã đưa toàn bộ số tiền trên cho Lê Đình T8:

Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, cơ quan điều tra đã xác minh nhân thân, địa chỉ của T8, hiện Thời không có mặt tại nơi cư trú, ghi lời khai của vợ và con T8 nhưng không biết thời đi đâu làm gì và không sống ở địa phương đã lâu, cơ quan đã ra quyết định truy tìm người nhưng chưa có kết quả do đó đã quyết định tách hành vi của T8 để tiếp tục điều tra làm rõ sau.

Cơ quan điều tra cũng đã sao kê tài khoản xác định có việc bị cáo N chuyển tiền cho T8 nhưng không đủ căn cứ xác định đó là số tiền mà N đưa cho để chạy án cho anh Chánh T9. Việc bị cáo N không có chức năng nhiệm vụ nhưng đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tiền của chị M đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do vậy việc cơ quan điều tra tách hành vi của Lê Đình T8 đều điều tra làm rõ sau không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo N và T2. Do đó yêu cầu kháng cáo của bị cáo N là không có căn cứ chấp nhận. Tòa án sơ thẩm xét xử là đúng tội danh của bị cáo N.

Về hình phạt đối với bị cáo: Các bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền rất lớn của bị hại nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù các ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, HĐXX phúc thẩm thấy:

Bị cáo N nhân thân chưa có tiền án tiền sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội bị cáo đã trả lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải . Bị cáo là mẹ đơn than nuôi 2 con nhỏ. Gia đình bị cáo thời cúng liệt sỹ là bác ruột của bị cáo. nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vai trò trong vụ án: N và T2 phạm tội với tính chất đồng phạm trong đó bị cáo N là người trực tiếp hứa hẹn, T2 có vai trò là đồng phạm giúp sức tích cực cho N.

Tuy nhiên sau khi phạm tội các bị cáo đã bồi thường, khắc phục trả cho bị hại toàn bộ số tiền chiếm đoạt do đó Tòa án sơ thẩm áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo N là có phần nghiêm khắc. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, Điều 51 BLHS do đó có thể xem xét cho bị cáo được mức án dưới mức thấp nhất liền kề của khung hình phạt, để bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chưa sai lầm. Mặc dù, bị cáo T2 không kháng cáo nhưng HĐXX thấy phù hợp với tình tiết và vai trò của vụ án nên HĐXX giảm cho bị cáo T2 01 phần hình phạt.

Từ những phân tích trên, HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 355, 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hồng N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HSST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, TP Hà Nội như sau:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58, Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị Hồng N 05 năm tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giam từ ngày 26/10/2023 đến ngày 04/12/2023

Xử phạt: Nguyễn Thị T2 4 năm 6 tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Oai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai;
  • - VKSND huyện Thanh Oai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Mạnh Cẩm Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1020/2024/HS-PT ngày 20/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 1020/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng Nhung - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger