Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày: 31/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Khánh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Kim Đào và ông Nguyễn Văn Trường.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 09/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HS ngày 18/7/2024 đối với bị cáo:

Trần Văn Q; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 12/5/1993, tại tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ làm lốp; Con ông Trần Ngọc T (đã chết); Con bà: Phan Thị B, sinh năm 1973; Hiện trú tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

  • - Anh Lê Minh Hoàng H, sinh năm 1996; trú tại: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1994; trú tại: Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 27/3/2024, Trần Văn Q đến khu vực kiệt A đường N (thuộc khu phố H, phường E, thành phố Đ) gặp Nguyễn Ngọc D (trú tại khu phố H, phường E, thành phố Đ) mua 150.000 đồng ma túy hồng phiến. D báo số lượng ma túy là 08 viên và đưa điện thoại cho Q quét mã QR nhằm chuyển khoản thanh toán. Q sử dụng điện thoại di động chuyển đến số tài khoản 10215091994 mang tên Nguyễn Ngọc D số tiền 250.000 đồng (trong đó có 150.000 đồng tiền mua ma túy và 100.000 đồng trả nợ trước đó). D đi vào nhà lấy 08 viên ma túy gói trong một gói giấy bạc đưa cho Lê Minh Hoàng H (trú tại khu phố A, phường E, thành phố Đ) để H đem ma túy ra cho Q. Sau khi nhận được ma túy, Q cầm trên tay trái rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến cuối kiệt 123 đường N (thuộc Khu phố H, Phường E, thành phố Đ) thì bị lực lượng Công an thành phố Đ bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, Trần Văn Q dương tính với ma túy Methamphetamine.

Quá trình điều tra, truy tố, bị can thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ông, bà nội của Trần Văn Q là người có công với cách mạng.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • - 08 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY.
  • - 01 mảnh giấy bạc có kích thước (7x3)cm;
  • - 01 điện thoại di động hiệu S A22 5G, màu đen, có số IMEI 357297127209790.

Tại bản kết luận giám định số 448/KL-KTHS ngày 03/4/2024, Phòng K Công an tỉnh Q đã kết luận: 08 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt có chữ WY được niêm phong trong phong bì màu trắng ký hiệu MT gửi đến giám định có khối lượng 0,7667 gam là ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKSDH, ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Trần Văn Quân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng xét xử, giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Q mức án từ 17 tháng đến 19 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

  • * Tịch thu tiêu hủy gồm: Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS4 2206166 theo kết luận giám định số 448/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
  • * Tịch thu sung công, gồm: 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy A22 5G, màu đen, có số IMEI 357297127209790, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an Thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Đông Hà ngày 29/7/2024).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
  2. Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng tại cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Ngày 27/3/2024, Trần Văn Q đã có hành vi mua, cất giấu 0,7667 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 101/CT-VKSDH, ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Trần Văn Q theo đúng tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

  3. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
    • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo, ông nội, bà nội của Trần Văn Q là người có công với cách mạng do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
  5. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án: Đối với Nguyễn Ngọc DLê Minh Hoàng H đã bán ma túy cho Trần Văn Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong vụ án khác, hiện vụ án đang được điều tra theo quy định.
  6. Xử lý vật chứng:
    • * Tịch thu tiêu hủy gồm: Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS4 2206166 theo kết luận giám định số 448/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
    • * Tịch thu sung công, gồm: 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy A22 5G, màu đen, có số IMEI 357297127209790, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

    (Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an Thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Đông Hà ngày 29/7/2024).

  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. Quyết định tạm giam của bị cáo Trần Văn Q còn dưới 45 ngày nên HĐXX ra Quyết định tạm giam mới.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 27/3/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
    • * Tịch thu tiêu hủy gồm: Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS4 2206166 theo kết luận giám định số 448/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
    • * Tịch thu sung công, gồm: 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy A22 5G, màu đen, có số IMEI 357297127209790, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

    (Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an Thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Đông Hà ngày 29/7/2024).

  3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Đông Hà;
  • - Công an tp Đông Hà, tỉnh Q.Trị;
  • - Chi cục THADS tp Đông Hà, tỉnh Q.Trị;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Lưu HS vụ án, THCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Khánh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Quân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger