|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 102/2024/DS-ST
Ngày 30 tháng 8 năm 2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Kiệt
Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Bà Trần Minh Muội – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 179/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1962; địa chỉ: Số I, ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1986; địa chỉ: số E, Khóm G, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Bà P, bà B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 23/4/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị P trình bày:
Bà Nguyễn Thị B là người mua bán thịt heo. Giữa bà P và bà B có mua bán heo thịt với nhau thông qua bà Nguyễn Thị T (chị ruột của B) giới thiệu. Từ ngày 03/02/2024 dương lịch đến trước ngày 06/02/2024 dương lịch, bà P và bà B mua bán với nhau được 3-4 lần, mỗi lần mua bán bà P có ghi lại số lượng heo, số ký lô heo và số tiền vào sổ để theo dõi. Mỗi lần giao heo thì qua ngày hôm sau bà B trả tiền đủ. Lần cuối cùng giao heo là ngày 06/02/2024 dương lịch, bà P giao cho bà B 1.624kg heo, giá mỗi ký là 56.000 đồng, tổng là 90.944.000 đồng, bà P chỉ tính số tiền là 90.000.000 đồng, bà B nợ lại. Trước đó, bà B có nhận riêng 03 con heo (không có ghi sổ lại), với tổng tiền là 16.500.000 đồng, cũng chưa trả tiền. Như vậy tổng cộng số tiền bà B còn nợ bà P là 106.500.000 đồng, bà P nhiều lần gặp và đòi tiền nhưng bà B không đồng ý trả và không thừa nhận thiếu tiền. Nay bà P khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả tiền heo số tiền 106.500.000 đồng (Một trăm lẽ sáu triệu năm trăm ngàn đồng), không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị B vắng mặt tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng bà B không đến tòa án tham gia tố tụng cũng như gửi văn bản ý kiến phản hồi nào về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo thủ tục tố tụng và các văn bản có liên quan nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát xét thấy bảo đảm đủ điều kiện và hợp pháp. Nguyên đơn đã chấp hành và xin vắng mặt theo quy định pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không đến Tòa án làm việc, không có mặt khi triệu tập tham gia phiên tòa là chưa chấp hành theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Theo Điều 93 và khoản 1, khoản 2 Điều 95 thì các tài liệu mà bà P cung cấp không đảm bảo tính khách quan dùng làm chứng cứ vì các biên nhận do bà P tự ghi lại, không có chữ ký của bà B. Đối với 02 đoạn ghi âm thì bà P xuất trình nhưng không “kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình” và cũng không có căn cứ gì chứng minh giọng nói trong đoạn ghi âm là của bà B. Ngoài các tài liệu này ra thì bà P không còn chứng cứ nào chứng minh là giữa bà P và bà bé có giao dịch mua bán heo với nhau, hiện tại bà B còn nợ bà P số tiền 106.500.000đ.
Về phía bà B thì không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của bà P. Bà P không có tài liệu thể hiện bà B xác nhận có giao dịch với bà P và hiện tại còn nợ bà P số tiền nêu trên.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 BLTTDS năm 2015 “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Như vậy, những tài liệu mà bà P cung cấp không đủ chứng cứ chứng minh bà B có nợ bà số tiền 106.500.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà P phải chịu theo quy định. Do bà P là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 NQ 326.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Nguyễn Thị B trả nợ tiền mua heo thịt nên đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà B có nơi cư trú hiện tại ở thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P: Bà P xác định bà B có mua heo thịt của bà P để mổ bán thịt, vào ngày 06/02/2024 dương lịch bà B nợ 1.624kg heo, giá mỗi ký là 56.000 đồng, tổng là 90.944.000 đồng, bà P chỉ tính số tiền là 90.000.000 đồng. Ngoài ra, bà B còn nợ tiền heo trước với số tiền 16.500.000 đồng, tổng cộng tiền nợ là 106.500.000đ đồng.
[3.1] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đến khi xét xử nhưng đều vắng mặt và không rõ lý do, nên không có ý kiến của bà B đối với yêu cầu khởi kiện của bà P. Tại biên bản ngày 09/7/2024 ghi nhận “ Bà B không đồng ý làm việc. Do đó Tòa án không thể tiến hành làm việc được với bà Nguyễn Thị B”. Ngoài ra, các biên bản không nhận văn bản của Tòa án đều thể hiện bà Nguyễn Thị B đều được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng từ khi thụ lý, thông báo phiên họp và hòa giải cũng như về việc mở phiên tòa xét xử vụ án. Như vậy, bà Nguyễn Thị B đã biết được việc Trần Thị P khởi kiện yêu cầu đòi tiền mua heo thịt tại Tòa án.
[3.2] Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn đã biết việc khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến phản đối cũng như không có các văn bản nào thể hiện ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh".
Mặt khác, theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn phải có nghĩa vụ “Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” và “Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc”. Như vậy, bị đơn đã cố tình vắng mặt nên được xem là từ bỏ quyền lợi của mình và không phản đối đối với yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, có căn cứ xác định Nguyễn Thị B có mua và còn nợ tiền mua heo thịt của bà P mà bà P không phải chứng minh thêm.
Hội đồng xét xử căn cứ Điều 430, 440 của Bộ Luật dân sự chấp nhận yêu cầu của bà P buộc bà B có nghĩa vụ trả cho bà P số tiền nợ mua heo thịt là 106.500.000đ đồng.
[4] Về tiền lãi do đương sự không yêu cầu, đây là sự tự nguyện của đương sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 106.500.000đ đồng x 5% = 5.325.000 đồng, bà Nguyễn Thị B phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bà Trần Thị P được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí. Bà P đã được miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[6] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 5; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 92, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;
- - Điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật Dân sự;
- - Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P.
- Buộc Nguyễn Thị B có trách nhiệm hoàn trả cho bà Trần Thị P số tiền nợ là 106.500.000 đồng (Một trăm lẽ sáu triệu năm trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án cón phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Nguyễn Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.325.000 đồng (Năm triệu ba trăm hai mươi lăm ngàn đồng) và nộp tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Bà Trần Thị P không phải nộp án phí, đã được miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
THẨM PHÁN- |
|
Phạm Thị C |
Bản án số 102/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 102/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Phượng. 2/. Buộc Nguyễn Thị Bé có trách nhiệm hoàn trả cho bà Trần Thị Phượng số tiền nợ là 106.500.000 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu năm trăm ngàn đồng)
