Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN GIANG

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HSST

Ngày: 30/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Lâm
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quyết Thắng
  • Ông Tạ Minh Tiếp
  • Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
  • Đại diện VKSND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: ông Dương Đức Khiên và bà Lưu Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 03/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo: Lò Văn D.

    Giới tính: Nam. Sinh ngày 20/4/2000 tại: huyện M, tỉnh Sơn La. HKTT: bản Mển, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lò Văn Ô, sinh năm 1976 và bà Tòng Thị T, sinh năm 1977. Vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trai tạm giam Công an tỉnh H theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

  2. Bị cáo: Đỗ Mạnh T1.

    Giới tính: Nam. Sinh ngày 13/01/1992 tại: huyện V, tỉnh Hưng Yên. HKTT: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1969 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1969. Vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

  3. Bị cáo: Vì Văn T3.

    Giới tính: Nam. Sinh ngày 12/10/2005 tại: huyện M, tỉnh Sơn La. HKTT: bản Mển, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Vì Văn T4, sinh năm 1975 và bà Vì Thị T5, sinh năm 1977. Vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Công ty Cổ phần X

Địa chỉ: D, khu A, phường D, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Anh Phạm Đức H1, sinh năm: 1972

Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương

* Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn D và bị cáo V Văn Thu: Bà Phạm Thị Thu H2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).

* Người làm chứng:

  • Dương Đình H3, sinh năm: 1986
  • Địa chỉ: Thôn L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
  • Anh: Đào Ngọc T6, sinh năm 1985
  • Địa chỉ: C, Phạm Ngũ L, K, Hưng Yên
  • Anh: Lầu A C1, sinh năm: 1997
  • Địa chỉ: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn Dũng Vi Văn T7 đều có hộ khẩu thường trú (HKTT). Bản Me, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La cùng Đô Mạnh T8, sinh năm 1992. T: thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên cả ba đều không có việc làm ổn định, cũng nhau thuê trọ tại nhà bả Hoàng Thị K1, sinh năm 1959 thôn Q, xã L, huyện V. tỉnh Hưng Yên, đi tìm việc làm. Do không có tiên lưu xài, D đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản mang bán để lấy tiền tiêu sài và đã chuẩn bị 01 chiếc kìm cắt dây cáp diện, 01 con dao phay, 01 chiếc tuốc nơ vít và 01 chiếc clê để làm công cụ thực hiện. Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 06/3/2024, tại nhà trọ nói trên trên D đã từ T7 và T8 đi vào công trường của Khu đô thị Đ, thuộc xã N, huyện V để cắt trộm dây cáp điện, mang bản lấy tiền chia nhau tiêu xài, thì tất cả đều đồng ý. Khi đi. Dùng mang theo: 01 chiếc bàn cắt dày sắp điện, 01 con dao phay, 01 tuốc nơ vit, 01 chiếc dê hình chữ T và giao chiếc xe mô tô của D nhân hiệu Honda WAVE màu đen, đã tháo biển số chỗ T8 điều khiển cho D và T7 đến công trưởng của Khu đô thị Đ. Khi đến gần kho vật tư của Công ty có phân và dịch vụ kỹ thuật 247 (gọi tắt là công ty X phân khu A Khu đô thị Đ; D bảo T8 dùng xe lại và cất xe vào vườn bị của nhà dân thuộc thôn L, xã N để tránh bị phát hiện. D phản công T8 đứng cánh giới ở ngoài đường tiếp giáp với vách tôn ngăn cách giữa đường của thôn L, xã N với Khu đô thị Đ; T7 đứng bên trong vách ngăn giữa Khu đô thị Đ và kho của công ty X; còn D sẽ đột nhập vào trong kho cái lấy dây cáp điện chuyển ra cho T7 để chuyển ra cho T8. Khi nào D cắt lấy được dây cáp diện, thi sĩ chuyển ra cho T9 dễ chuyển ra cho T8. Sau đó cả 3 cùng đi đến khu vực kho vật tư của công ty X, T8 đùng bên ngoài vách tôn; D và T7 chui qua khe hở của vách tôn rồi chui vào bên trong khu đô thị D tiếp tục treo qua hàng rào ngăn cách giữa Khu đô thị Đ và nhà thầu 247 đi vào kho vật tư; còn T7 đứng ở bên ngoài hàng rào của kho vật tư. D sử dụng kim cắt lấy một đoạn dây cáp điện dài khoảng 15m tại kho vật tư của Công ty ở phân khu A, khu đô thị Đ. Sau đó D cắt ngắn thành 3 đoạn để thuận tiện cho việc chuyển qua hàng rào cho T7 và T8. Khi vừa cắt rời đoạn dây cáp điện thành ba đoạn thì bị lực lượng bảo vệ của khu đô thị và Tổ công tác bảo đảm an ninh trật tựu của công an huyện V tại khu đô thị S phát hiện bắt quả tang D. Còn T8 và T7 bỏ trốn. Tại Cơ quan điều tra, Vì Văn T7 khai nhận đã cùng với Lò Văn D và Đỗ Mạnh T1 thực hiện hành vi lấy trộm dây cáp điện tại kho vật tư của Công ty X.

Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã triệu tập D và T1 đến làm việc, thì cả hai đều thành khẩn khai nhận vào đêm 06 rạng ngày 07/03/2024 đã cùng với T7 thực hiện hành vi trộm cắp dây cáp điện tại kho vật tư của Công ty X và tiến hành cho các bị cáo chỉ dẫn vị trí trộm cắp dây cáp điện vào đêm 06/3, rạng sáng ngày 07/03/2024. Kết quả, cả 3 đều chỉ dẫn đến kho vật tư của Công ty X ở phân khu A, khu đô thị Đ, thuộc xã N, huyện V

Ngày 07/3/2024 anh Phạm Đức H1, sinh năm 1972, HKTT: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương là thủ kho của Công ty X tại Khu đô thị Đ (là người được công ty X ủy quyền) đã gửi đơn trình báo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V trình báo về việc ngày 07/3/2024 bị cắt trộm khoảng 16m dây cáp điện.

Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ: thu giữ tại kho của công ty X: 03 đoạn dây cáp điện cùng loại 0,6/1kV-Cu/XLPE/PVC 1x150mm², gồm: 01 đoạn dài 5,97m, 01 đoạn, dài 3,7m, 01 đoạn dài 5,86m; tổng trọng lượng khi cân tịnh được xác định là 23kg; 01 con dao phay, dài 37cm, chuôi cầm bằng gỗ; 01 chiếc tuốc nơ vít có chuôi cầm bọc nhựa màu đỏ đen; 01 chiếc kìm cắt bằng kim loại có cán sơn màu xanh, chuôi kìm bọc nhựa màu đen; 01 chiếc clê hình chữ “T” có tay cầm bọc nhựa màu vàng; thu giữ tại vườn ổi giáp đường T, xã N 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE, màu đen, số máy HC12E3016092; số khung 1204BY216080, bên trong cốp xe có 01 biển số 99F1-065.80 và 01 đăng ký xe mô tô số 007303 mang tên Dương Đình H3, có địa chỉ: thị trấn H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/BKL-ĐGTS ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện V kết luận: 03 đoạn dây cáp điện 0,6/1kV-Cu/XLPE/PCV 1 x 150mm² loại cáp 1 lõi (lõi trong bằng kim loại màu vàng) với tổng chiều dài 15,53m x350.240đ/m= 5.439.227 đồng.

Ngày 27/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại anh Phạm Đức H1 (là người được công ty X ủy quyền) 03 đoạn dây cáp điện 0,6/1kV-Cu/XLPE/PCV 1 x 150mm² loại cáp 1 lõi (lõi trong bằng kim loại màu vàng) gồm 01 đoạn dài 5,97m; 01 đoạn dài 3,7m, và 01 đoạn dài 5,86m. Anh H1 đã nhận lại tài sản và xác định số dây cáp điện trên vẫn sử dụng được, nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE màu đen, số máy HC12E3016092; số khung 1204BY216080 do D sử dụng làm phương tiện cùng với T7 và T1 để đi thực hiện tội phạm. D khai mua chiếc xe từ năm 2023 nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ người bán. Cơ quan CSĐT Công an huyện đã tra cứu nguồn gốc, xác định chủ sở hữu ban đầu là ông Dương Đình H3, sinh năm 1986. HKTT: Thôn L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Ông H3 đã bán chiếc xe này từ lâu (không nhớ là thời gian nào). Kết quả tra cứu xác định: xe không có trong cơ sở dữ liệu là xe vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số: 87/CT-VKSVG ngày 31/5/2024,Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Lò Văn D, Vì Văn T và Đỗ Mạnh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

  • Các Bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu tại bản Cáo trạng và tỏ thái độ ăn năn hối cải.
  • Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng, đề nghị HĐXX áp dụng:
    • Khoản 1 điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn D.
    • Khoản 1 điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Mạnh T1
    • Khoản 1 điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vì Văn T10
    • Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
    • Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Tuyên bố các bị cáo Lò Văn D; Đỗ Mạnh T1 và Vì Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 09 tháng tù đến 01 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 11/3/2024; bị cáo Vì Văn T10; Đỗ Mạnh T1 và Vì Văn T10 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 11/3/2024.
  • Về vật chứng: Đề nghị tịch tiêu hủy 01 con dao phay chuôi cầm bằng gỗ, 01 chiếc tuốc nơ vít có chuôi cầm bọc nhựa màu đỏ đen, 01 chiếc clê hình chữ T tay cầm bọc nhựa màu vàng, 01 chiếc kìm cắt bằng kim loại, sơn màu xanh, chuôi bọc nhựa màu đen là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng.
  • Tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô Honda WAVE màu đen, số máy HC12E3016092; số khung 1204BY216080, biển số 99F1. 065.80 và 01 đăng ký xe mô tô số 007303 mang tên Dương Đình H3. Đây là xe của bị cáo D sử dụng làm phương tiện phạm tội.
  • Về án phí: Bị cáo T1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Đề nghị miễn án phí HSST đối với bị cáo D và T10.
  • Người bào chữa cho hai bị cáo D và T10 nhất trí với tội danh và các điều luật Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với hai bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh của hai bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình hai bị cáo đều là hộ nghèo, cận nghèo xử phạt bị cáo D và bị cáo T10 mức án thấp nhất do Viện kiểm sát đề nghị, miễn án phí HSST cho bị cáo D và bị cáo T10.
  • Các Bị cáo không tranh luận gì.
  • Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều nhận thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo, đúng pháp luật.

Đại diện bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy đại diện bị hại, người làm chứng vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp khách quan với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp Biên bản vụ việc, lời khai của đại diện bị hại, lời khai của người làm chứng, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/03/2024, tại nhà trọ nói trên D đã rủ T10 và T1 đi vào công trường của Khu đô thị Đ, thuộc xã N, huyện V để cắt trộm dây cáp điện, mang bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, thì tất cả đều đồng ý. Vào đêm 06/3, rạng sáng ngày 07/03/2024 tại kho vật tư của Công ty X ở phân khu A, khu đô thị Đ, thuộc xã N, huyện V các bị cáo đã có hành vi lén lút cắt trộm 03 đoạn dây cáp điện 0,6/1kV-Cu/XLPE/PCV 1 x 150mm² loại cáp 1 lõi (lõi trong bằng kim loại màu vàng) với tổng chiều dài 15,53m.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được là 5.439.227 đồng. Hành vi này của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội danh theo điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, pháp nhân được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại khu công trường, gây hoang mang, lo lắng cho doanh nghiệp đang thi công tại địa phương trong việc bảo vệ tài sản của mình nên cần phải đưa ra xét xử và áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Để có tiền phục vụ mục đích tiêu sài cá nhân bị cáo D đã rủ các bị cáo T1 và T10 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, đồng thời D còn chuẩn bị 01 chiếc kìm cắt dây cáp điện, 01 con dao phay, 01 chiếc tuốc nơ vít, 01 chiếc clê để làm công cụ thực hiện và phân công các vị trí cho T1 và T10 để hỗ trợ bị cáo. Các bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm, chứng tỏ các bị cáo rất liều lĩnh, coi thường pháp luật nên cần phải đưa ra xét xử và áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò của bị các cáo và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; Bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vai trò: Trong vụ án này ba bị cáo đã đồng phạm thực hiện tội phạm. Bị cáo D là người khởi khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị công cụ, phương tiện và thực hiện tội phạm tích cực nhất nên có vai trò đầu vụ. Bị cáo T1 và T10 cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với D nên là người thực hành giúp sức, có vai trò thứ yếu.

Về hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy:

Các bị cáo muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức lao động nên đã cố ý trộm cắp tài sản. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, góp phần phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo D giữ vai trò chính nên sẽ bị xử phạt mức hình phạt cao hơn, bị cáo T1 và bị cáo T10 cùng thực hành giúp sức, có vai trò như nhau sẽ bị xử phạt mức hình phạt ngang nhau.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Bị cáo D và T10 đều thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện bị hại anh H1nhận tài sản bị cáo trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô hãn hiệu Honda WAVE có số máy HC12E3016092; số khung 1204BY216080, biển số 99F1-065.80 và 01 đăng ký xe mô tô số 007303 mang tên Dương Đình H3, bị cáo Dụng làm phương tiện khi phạm tội sẽ tịch thu sung ngân sách nhà nước; 01 con dao phay chuôi cầm bằng gỗ, 01 chiếc tuốc nơ vít có chuôi cầm bọc nhựa màu đỏ đen, 01 chiếc clê hình chữ T tay cầm bọc nhựa màu vàng, 01 chiếc kìm cắt bằng kim loại, sơn màu xanh, chuôi bọc nhựa màu đen là của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Bị cáo T1 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo D10c miễn án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào:

  • Khoản 1 điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn D.
  • Khoản 1 điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Mạnh T1.
  • Khoản 1 điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vì Văn T10.
  • Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố:

Các bị cáo Lò Văn D, Đỗ Mạnh Tli Văn T7m tội “Trộm cắp tài sản".

3. Xử phạt:

  • Bị cáo Lò Văn D chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2024
  • Bị cáo Đỗ Mạnh T1sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2024
  • Bị cáo Vì Văn T10(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2024

4.Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc mô tô Honda WAVE có số máy HC12E3016092; số khung 1204BY216080, biển số 99F1- 065.80 và 01 đăng ký xe mô tô số 007303 mang tên Dương Đình H3.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao phay chuôi cầm bằng gỗ, 01 chiếc tuốc nơ vít có chuôi cầm bọc nhựa màu đỏ đen, 01 chiếc clê hình chữ T tay cầm bọc nhựa màu vàng, 01 chiếc kìm cắt bằng kim loại, sơn màu xanh, chuôi bọc nhựa màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện Vi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Giang ngày 29/7/2024).

5. Về án phí:

Bị cáo Lò Văn D vì Văn T được miễn án phí HSST.

Bị cáo Đỗ Mạnh T1 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, đại diện bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA, TAND tỉnh HY;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Công an huyện Văn Giang;
  • - VKS huyện Văn Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Giang;
  • - UBND xã Hua Trai, huyện Mường La, tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoàng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 102/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Lò Văn D 09 tháng tù; Đỗ Mạnh T1 06 tháng tháng tù và Vì Văn T 06 tháng tháng tù về tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger